Nhiều phụ huynh khi thấy con bị cận thị thường lo lắng tìm mua các loại viên uống vi chất hoặc thực phẩm chức năng bổ mắt đắt tiền. Ai cũng mong những viên uống này có thể giúp trẻ cải thiện thị lực hoặc ngăn độ cận tăng nhanh. Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học hiện nay lại cho thấy một thực tế hoàn toàn trái ngược.

Cho đến nay, chưa có vi chất hay thực phẩm bổ sung nào được chứng minh là có khả năng làm chậm tiến triển cận thị ở trẻ em [1]. Yếu tố tự nhiên đóng vai trò cốt lõi và có bằng chứng rõ ràng nhất để bảo vệ mắt học sinh chính là thời gian hoạt động ngoài trời [2], [3].

Cơn sốt viên uống bổ mắt và sự thật khoa học

Thị trường sản phẩm bổ trợ mắt cho học sinh hiện phát triển rất mạnh mẽ với vô số lời quảng cáo hấp dẫn. Nhiều gia đình không tiếc tiền mua sắm vì nghĩ rằng bổ sung vi chất sẽ giúp bảo vệ đôi mắt đang chịu áp lực học tập lớn của con.

Một nghiên cứu năm 2020 tại Đài Loan khảo sát các yếu tố nguy cơ và hành vi của học sinh tiểu học bị cận thị chỉ ra rằng việc sử dụng thực phẩm bổ sung không tạo ra tác động đáng kể nào đến việc kiểm soát tiến triển độ cận [1]. Nghiên cứu này ghi nhận tại Đài Loan, thị trường thực phẩm bổ sung đạt doanh thu 567 triệu USD mỗi năm, trong đó khoảng 50,85% dành cho các sản phẩm chăm sóc mắt [1]. Dù chi phí phụ huynh bỏ ra rất lớn, các dữ liệu thực tế cho thấy những viên uống này mang lại rất ít hiệu quả trong thời gian ngắn đối với việc ngăn ngừa hay kiểm soát tật cận thị [1].

Việc cho trẻ uống vi chất bổ mắt để giảm độ cận thực chất là một ngộ nhận phổ biến. Cho đến nay, các hướng dẫn lâm sàng từ những hiệp hội nhãn khoa lớn đều không khuyến nghị dùng vi chất như một biện pháp điều trị hay kìm hãm cận thị tiến triển [1], [2].

Cơ chế tự nhiên: Ánh sáng kích hoạt bảo vệ mắt

Để hiểu vì sao viên uống không mang lại tác dụng kiểm soát độ cận, cần nhìn vào cơ chế sinh học của mắt. Trục nhãn cầu dài ra quá mức chính là nguyên nhân cơ học trực tiếp khiến độ cận thị gia tăng [2], [4].

Theo tài liệu cập nhật của Hội Nhãn khoa Châu Âu phối hợp với Viện Cận thị Quốc tế năm 2021, tác dụng bảo vệ mắt của hoạt động ngoài trời chủ yếu nhờ ánh sáng tự nhiên kích thích giải phóng dopamine từ võng mạc [2]. Lượng dopamine tăng lên sẽ ức chế sự dài ra bất thường của trục nhãn cầu [2]. Sự thiếu hụt ánh sáng cực tím (UV) tự nhiên cũng có thể thúc đẩy sự phát triển cận thị trục [2].

Bên cạnh đó, môi trường trong nhà và đô thị nhân tạo có đặc điểm thị giác tần số không gian tương tự như các bộ lọc gây mờ, dễ kích thích cận thị do tước đoạt hình thái tương tự các mô hình thực nghiệm [2]. Khi trẻ ở ngoài trời, cường độ sáng tự nhiên cao sẽ kích hoạt tiết dopamine, ngăn chặn nhãn cầu dài ra, điều mà không một loại thuốc uống hay viên vi chất nào có thể thay thế được [2], [5].

Vitamin D trong máu: Nguyên nhân hay chỉ là dấu vết?

Nhiều người tin rằng thiếu hụt vitamin D là thủ phạm gây cận thị và cho trẻ uống bổ sung chất này. Giới khoa học đã tiến hành đo đạc nồng độ chất này để tìm câu trả lời chính xác.

Các dữ liệu nghiên cứu ghi nhận nồng độ 25-hydroxyvitamin D trong huyết thanh ở trẻ cận thị thường thấp hơn so với trẻ không bị cận thị [2]. Nồng độ vitamin D huyết thanh thấp liên quan đến trục nhãn cầu dài hơn và nguy cơ cận thị cao hơn, bất kể trẻ thuộc gốc Âu hay ngoài châu Âu [2].

Tuy nhiên, các chuyên gia làm rõ rằng vitamin D tổng số và D3 thực chất chỉ là dấu ấn sinh học phản ánh việc trẻ ít dành thời gian ra ngoài trời [2]. Không có bằng chứng nào cho thấy bản thân vi chất này có mối liên hệ độc lập giúp điều trị hoặc làm chậm sự phát triển của cận thị [2]. Do đó, việc tự ý bổ sung viên uống vitamin D không thể thay thế cho thời gian tắm mình dưới ánh nắng tự nhiên [2].

Các nghiên cứu nói gì về thời gian ngoài trời?

Nghiên cứu SAVES tại Úc theo dõi học sinh trong 5 đến 6 năm cho thấy nhóm trẻ bị cận thị dành ít thời gian ngoài trời hơn hẳn nhóm không cận thị, cụ thể là 16,3 giờ/tuần so với 21 giờ/tuần ở nhóm 6 tuổi, và 17,2 giờ so với 19,6 giờ ở nhóm 12 tuổi [3]. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên của He và cộng sự chỉ ra rằng việc bổ sung 40 phút hoạt động ngoài trời mỗi ngày học trong 3 năm giúp giảm tỷ lệ mắc cận thị mới từ 39,5% xuống còn 30,4% [3].

Tại Trung Quốc, một nghiên cứu đoàn hệ kéo dài 2,5 năm trên học sinh tại Ôn Châu cho thấy mức độ vận động ngoài trời cao giúp giảm 31% nguy cơ mắc mới cận thị (HR 0,69, khoảng tin cậy 95%: 0,49-0,96) so với nhóm vận động ít [4]. Trẻ có thời gian ngoài trời thấp có tốc độ dài trục nhãn cầu nhanh hơn đáng kể so với nhóm hoạt động nhiều (p = 0,045) [4].

Tại Ấn Độ, một nghiên cứu tiến cứu năm 2021 theo dõi trẻ từ 7 đến 14 tuổi có độ cận từ -0,5D trở lên trong 18 tháng bằng phương pháp liệt điều tiết [6]. Kết quả ghi nhận mối liên hệ nghịch có ý nghĩa thống kê giữa thời gian ngoài trời và cận thị; mỗi giờ ra ngoài mỗi ngày đều mang lại hiệu quả bảo vệ trước tiến triển cận thị [6]. Nghiên cứu năm 2011 trên 80 trẻ cận thị 7-11 tuổi can thiệp ngoài trời trên 14-15 giờ/tuần cho thấy mức tăng độ cận hàng năm ở nhóm can thiệp chỉ là 0,38 D, thấp hơn rõ rệt so với 0,52 D ở nhóm chứng sau 2 năm [7].

Giới hạn của bằng chứng và tranh luận khoa học

Mặc dù vai trò phòng ngừa khởi phát cận thị là rất rõ ràng, tác động của hoạt động ngoài trời trong việc kìm hãm độ cận ở những trẻ đã mắc bệnh vẫn còn một số kết quả trái chiều [2], [4], [8].

Hướng dẫn năm 2021 của Hội Nhãn khoa Châu Âu nhấn mạnh bằng chứng về hoạt động ngoài trời giúp ngăn ngừa cận thị khởi phát mạnh hơn so với việc làm chậm tiến triển ở mắt đã cận [2]. Nghiên cứu của Wu và cộng sự ghi nhận 10-20 phút ra sân chơi mỗi sáng và chiều có tác dụng ở trẻ chưa cận nhưng không làm chậm tăng độ ở trẻ đã bị cận thị [2]. Tương tự, nghiên cứu tại Ôn Châu và nghiên cứu Anyang tại Ấn Độ đều ghi nhận thời gian ngoài trời không làm chậm sự tiến triển độ cận ở nhóm trẻ đã mắc bệnh từ trước [4], [8].

Sự khác biệt này cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ khởi phát cận thị có thể khác với các cơ chế chi phối tốc độ tăng độ khi nhãn cầu đã bắt đầu giãn dài [8]. Dẫu vậy, nhiều nghiên cứu khác trong giai đoạn dịch COVID-19 vẫn khẳng định trẻ ra ngoài ít nhất 2 giờ mỗi ngày duy trì được tốc độ tăng độ cận chậm hơn trẻ ở trong nhà [5].

Những hiểu lầm phụ huynh thường gặp

Một sai lầm rất lớn của phụ huynh là tâm lý "sợ con phụ thuộc vào kính" nên trì hoãn việc đeo kính chuẩn độ [1]. Nghiên cứu tại Đài Loan chỉ ra có tới 43% học sinh cận thị không dùng bất kỳ biện pháp chỉnh quang nào, một phần do cha mẹ nghĩ trẻ còn nhìn thấy trên lớp hoặc sợ đeo kính làm mắt yếu đi [1].

Thực tế, nghiên cứu năm 2011 khẳng định việc đeo kính đúng thời gian quy định là một trong những yếu tố giúp giảm tốc độ tăng độ cận (t = -3.115, p < 0,05) [7]. Không đeo kính khiến mắt liên tục phải điều tiết căng thẳng, dễ dẫn tới nhược thị hoặc tăng độ nhanh hơn [1], [7].

Hiểu lầm thứ hai là chỉ cần cho trẻ uống các loại viên vi chất "bổ mắt" là có thể yên tâm cho trẻ học tập, dùng màn hình máy tính bao lâu tùy thích [1], [7]. Không có bất kỳ loại thực phẩm chức năng nào xóa bỏ được tác hại của việc nhìn gần liên tục và thiếu ánh sáng mặt trời [1], [2].

Ai nên thận trọng khi kiểm soát cận thị?

Trẻ em mắc cận thị ở độ tuổi càng nhỏ càng cần được theo dõi đặc biệt sát sao [8]. Nghiên cứu theo dõi năm 2022 cho thấy độ tuổi ban đầu là yếu tố độc lập mạnh nhất ảnh hưởng đến tốc độ tiến triển cận thị và độ dài trục nhãn cầu; trẻ từ 6-9 tuổi có tốc độ tăng độ cận và dài trục mắt nhanh hơn hẳn nhóm lớn tuổi hơn [8].

Đối với những trẻ có tốc độ tăng độ nhanh hoặc nguy cơ cao, chỉ thay đổi lối sống đơn thuần có thể không đủ kiểm soát hoàn toàn bệnh [3]. Phụ huynh không nên tự ý tìm kiếm các loại thuốc hay thực phẩm chức năng truyền tai [1].

Khi trẻ có dấu hiệu tăng độ nhanh, gia đình cần đưa trẻ đến các cơ sở chuyên khoa mắt để được bác sĩ đánh giá. Trẻ có thể cần can thiệp y khoa kết hợp như dùng thuốc nhỏ mắt atropine nồng độ thấp 0,01%, kính tiếp xúc chỉnh hình giác mạc Ortho-K hoặc kính gọng đa tròng chuyên dụng theo chỉ định chuyên môn [3], [8]. Phụ huynh tuyệt đối không tự ý mua thuốc nhỏ mắt atropine để điều trị tại nhà khi chưa có hướng dẫn của bác sĩ.

Áp dụng thực tế: Thiết lập thói quen đúng cho trẻ

Thay vì tốn kém chi phí vào các loại viên uống chưa có cơ sở khoa học, phụ huynh và nhà trường cần ưu tiên tối đa việc tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với ánh sáng ban ngày [1], [6].

  • Tăng thời gian ngoài trời: Hướng dẫn trẻ duy trì thời gian ở ngoài trời từ 10 đến 14 giờ mỗi tuần, tương đương khoảng 2 giờ mỗi ngày [6], [7], [5]. Khoảng thời gian này có thể chia nhỏ vào giờ ra chơi ở trường, các tiết thể dục hoặc đi bộ vào buổi sáng và chiều [2], [6].
  • Tận dụng ánh sáng tự nhiên: Khuyến khích trẻ học tập và sinh hoạt ở những nơi có nguồn ánh sáng mặt trời tự nhiên chiếu rọi, hạn chế không gian khép kín u tối [2], [7], [5].
  • Quản lý hoạt động nhìn gần: Giảm bớt thời lượng sử dụng máy tính, tivi và các thiết bị giải trí nhìn gần không cần thiết [7], [5]. Các hoạt động nhìn cự ly gần và trung bình nên được giới hạn dưới 30 giờ mỗi tuần [7].
  • Đeo kính chỉnh quang đúng chỉ định: Trẻ đã cận thị cần đeo kính đúng độ thường xuyên theo hướng dẫn của bác sĩ nhãn khoa, tránh việc bỏ kính khi học tập [1], [7].
  • Thăm khám định kỳ: Đưa trẻ đi khám khúc xạ định kỳ mỗi 6 tháng một lần để theo dõi sát trục nhãn cầu và độ cận, từ đó có hướng can thiệp y tế kịp thời [6].

Chăm sóc mắt cho trẻ cận thị không nằm ở những viên vi chất đắt đỏ [1]. Một lối sống cân bằng, giảm tải áp lực học tập nhìn gần và dành ít nhất 2 giờ mỗi ngày dưới ánh sáng tự nhiên chính là chiếc khiên bảo vệ thị lực vững chắc và khoa học nhất cho trẻ [2], [6], [5].