Nhiều cha mẹ bắt đầu cho con ăn dặm thường chọn rong biển vì nghĩ đây là nguồn bổ sung khoáng chất tự nhiên tuyệt hảo. Các loại canh rong biển, snack rong biển xé vụn trộn cháo trở thành thực đơn quen thuộc của nhiều gia đình có con nhỏ.

Tuy nhiên, việc vội vàng đưa rong biển vào thực đơn ăn dặm của trẻ dưới 1 tuổi tiềm ẩn nhiều rủi ro sức khỏe hơn là lợi ích. Tải lượng khoáng chất, đặc biệt là hàm lượng i-ốt cực lớn, cùng các chất xơ hòa tan phức tạp và nguy cơ tích tụ kim loại nặng từ rong biển có thể gây quá tải cho hệ tiêu hóa non nớt và làm rối loạn tuyến giáp của trẻ [1].

Nguy cơ quá tải i-ốt và ức chế tuyến giáp

I-ốt đóng vai trò thiết yếu cho sự tăng trưởng bình thường và phát triển tâm vận động ở giai đoạn đầu đời [2]. Dù vậy, tuyến giáp của trẻ nhỏ rất nhạy cảm với sự biến động của vi chất này. Việc thiếu hay thừa i-ốt đều để lại những hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe [3].

Rong biển nổi tiếng là thực phẩm tích lũy nồng độ i-ốt rất cao từ nước biển [4]. Các loại rong biển nâu như tảo bẹ (kelp), kombu hay sargassum có thể chứa hơn 1000 microgram i-ốt trong mỗi gam sản phẩm khô [1]. Thậm chí, một nghiên cứu định lượng ghi nhận hàm lượng i-ốt trung bình trong tảo bẹ kombu lên tới 2523,5 mg/kg (dao động 241-4921 mg/kg), rong biển wakame chứa từ 93,9 đến 185,1 mg/kg và rong nori chứa từ 29,3 đến 45,8 mg/kg [5].

Chỉ cần tiêu thụ 1 gam rong biển khô, lượng i-ốt đưa vào cơ thể đã có thể đóng góp từ 20% đến 500% nhu cầu khuyến nghị hàng ngày của con người [4]. Nhu cầu i-ốt đề xuất cho trẻ nhỏ thường chỉ dao động trong khoảng 80 đến 110 microgram/ngày [1]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đề xuất giới hạn dung nạp tối đa đối với trẻ dưới 2 tuổi là 180 microgram/ngày [1]. Trong khi đó, Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) xác định mức giới hạn an toàn tối đa cho người lớn là 600 microgram/ngày nhưng chưa hề có mức trần tuyệt đối cho trẻ dưới 1 tuổi do nguy cơ quá liều quá cao [1].

Khi nồng độ i-ốt trong máu tăng vọt, cơ thể kích hoạt phản ứng tự vệ tạm thời làm ngừng tổng hợp hormone tuyến giáp, dẫn đến hiện tượng suy giáp do thừa i-ốt [6], [3]. Tình trạng này có thể cản trở chức năng chuyển hóa bình thường và đe dọa sự phát triển toàn diện của trẻ sơ sinh [6], [7].

Bằng chứng khoa học về tác hại của thừa i-ốt từ rong biển

Nhiều công trình y khoa đã ghi nhận mối liên hệ trực tiếp giữa việc dung nạp quá mức rong biển và nguy cơ suy giáp ở trẻ nhỏ. Một báo cáo năm 2021 mô tả trường hợp trẻ đủ tháng bị suy giáp bẩm sinh hiếm gặp do mẹ ăn lượng lớn canh rong biển nâu sau sinh để kích sữa, thường dùng 4-5 lần một ngày [1]. Nghiên cứu chỉ ra rằng 250 mL canh rong biển có thể cung cấp từ 500 đến 1700 microgram i-ốt tùy thuộc vào việc có ăn trực tiếp phần bã rong hay không [1]. Lượng i-ốt này vượt xa ngưỡng an toàn hàng ngày của cả người mẹ lẫn trẻ sơ sinh bú mẹ [1].

Một trường hợp lâm sàng khác công bố năm 2018 ghi nhận một bé gái 15 ngày tuổi phát hiện suy giáp sơ sinh qua xét nghiệm sàng lọc [6]. Nguyên nhân được xác định là tình trạng thừa i-ốt bắt nguồn từ việc người mẹ ăn canh rong biển liên tục trong suốt thai kỳ và sau sinh [6]. Trẻ phải ngưng bú mẹ tạm thời và điều trị ngắn hạn bằng thuốc levothyroxine; chức năng tuyến giáp hồi phục bình thường ở mốc 4 tháng tuổi khi người mẹ ngừng hoàn toàn việc tiêu thụ rong biển [6].

Tại Nhật Bản, nghiên cứu năm 2004 trên 34 trẻ sơ sinh dương tính với sàng lọc suy giáp bẩm sinh đã xác định 15 trường hợp bị tăng thyrotropin (TSH) trong máu do mẹ tiêu thụ nhiều rong biển kombu trong thai kỳ [7]. Nhóm các bà mẹ tiêu thụ ước tính 2300-3200 microgram i-ốt/ngày và nhóm còn lại tiêu thụ 820-1400 microgram i-ốt/ngày từ kombu và súp kombu ăn liền [7]. Trong số 15 trẻ này, có tới 12 trẻ cần dùng thuốc levothyroxine để kiểm soát suy giáp hoặc tăng thyrotropin kéo dài [7]. Các nhà khoa học cảnh báo rằng tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp do dung nạp i-ốt từ rong biển trong một số trường hợp có thể không chỉ là thoáng qua mà kéo dài dai dẳng [7].

Các báo cáo tại Úc và New Zealand năm 2011 cũng nhấn mạnh hai trường hợp suy giáp sơ sinh do thói quen ăn canh rong biển kích sữa ở các gia đình gốc Á [3]. Nghiên cứu chỉ ra rằng bên cạnh vấn đề thiếu hụt i-ốt thì tình trạng dư thừa quá mức từ thực phẩm truyền thống là một nguy cơ không được phép xem nhẹ [3].

Rủi ro tiêu hóa và nguy cơ tích tụ kim loại nặng

Bên cạnh nguy cơ quá tải khoáng chất, rong biển còn chứa nhiều thành phần sinh học phức tạp cần xem xét thận trọng đối với hệ tiêu hóa của trẻ dưới 1 tuổi. Rong biển chứa hàm lượng dồi dào chất xơ hòa tan, chất chống oxy hóa, flavonoid và các vitamin [1], [8]. Mặc dù chất xơ hòa tan nhớt này hỗ trợ chống các bệnh mạn tính liên quan đến lối sống ở người lớn [1], đường ruột của trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi chưa hoàn thiện đủ men vi sinh và cấu trúc niêm mạc để xử lý hiệu quả lượng chất xơ đặc này. Trẻ rất dễ bị đầy bụng, khó tiêu hoặc kích ứng nhu động ruột nếu ăn trực tiếp phần thân rong biển.

Mặt khác, đặc tính sinh học của rong biển là khả năng tích tụ tự nhiên các hợp chất từ môi trường biển [8], [4]. Rong biển có xu hướng tích lũy các kim loại nặng và khoáng chất có hại cho sức khỏe con người nếu tiêu thụ không kiểm soát [1], [8].

Một nghiên cứu an toàn chuỗi giá trị năm 2022 cho thấy asen vô cơ là một trong những mối nguy hóa học nghiêm trọng nhất thường được ghi nhận trong rong biển [4]. Asen vô cơ là dạng hợp chất asen độc hại nhất [4]. Điển hình như loài rong Sargassum fusiforme (rong hijiki), nồng độ asen vô cơ tích tụ đậm đặc đến mức một khẩu phần 25 gram có thể chứa lượng asen tương đương mức một người tiêu dùng thông thường nạp vào suốt 1 đến 2 tháng qua chế độ ăn tiêu chuẩn tại Anh [4]. Nhìn chung, các loài rong biển nâu chứa nồng độ asen vô cơ cao nhất, tiếp theo là rong biển đỏ, trong khi rong biển xanh thường tích tụ mức thấp hơn [4]. Dù các quốc gia thường xuyên giám sát hàm lượng kim loại nặng trong thủy sản [5], cơ chế tích lũy sinh học này vẫn đặt ra rủi ro sức khỏe cho cơ thể nhạy cảm của trẻ nhỏ [8].

Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện tại

Cần nhìn nhận khách quan rằng rong biển là nguồn thực phẩm giàu hoạt tính sinh học, có tiềm năng hỗ trợ chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch và ngăn ngừa nhiều bệnh lý mạn tính [8]. Việc sử dụng rong biển làm phụ gia dinh dưỡng trong chăn nuôi cũng cho thấy hiệu quả nâng cao chất lượng thực phẩm gián tiếp cho con người mà không gây quá liều [8].

Bên cạnh đó, các nghiên cứu giám sát dinh dưỡng tại Đài Loan năm 2014 cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong phần lớn rong biển thương phẩm ăn được vẫn nằm dưới ngưỡng tối đa cho phép [5]. Nồng độ i-ốt trong rong biển cũng có thể biến đổi rất lớn tùy thuộc vào điều kiện thu hoạch, lưu trữ và cách chế biến nấu nướng [1].

Tuy nhiên, phần lớn các dữ liệu lâm sàng cảnh báo nguy cơ suy giáp do thừa i-ốt hiện nay mới tập trung ở các báo cáo ca bệnh hoặc nghiên cứu quan sát trên phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú và trẻ sơ sinh bú mẹ [1], [6], [7]. Dù vậy, dữ liệu từ các ca bệnh này là bằng chứng rõ ràng cho thấy ngưỡng chịu đựng i-ốt của trẻ dưới 1 tuổi cực kỳ thấp; sự phơi nhiễm trực tiếp từ thức ăn dặm chứa rong biển nguyên bã tiềm ẩn nguy cơ vượt ngưỡng cao hơn nhiều lần.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng rong biển cho trẻ ăn dặm

Nhiều cha mẹ lầm tưởng rằng rong biển là thực phẩm lành tính, dùng càng nhiều trẻ càng thông minh do được bổ sung đầy đủ i-ốt và khoáng chất. Trên thực tế, trẻ bú mẹ hoàn toàn hoặc sử dụng sữa công thức tăng cường kết hợp với bột ngũ cốc dặm vốn đã nhận đủ lượng i-ốt cần thiết cho sự phát triển [2].

Một nghiên cứu cắt ngang năm 2017 trên 386 trẻ 6 tháng tuổi tại Nam Phi chỉ ra rằng tình trạng i-ốt của trẻ sơ sinh phụ thuộc lớn vào nồng độ i-ốt trong sữa mẹ và việc sử dụng bột ăn dặm thương mại [2]. Nhóm trẻ ăn ngũ cốc tăng cường từ 4 ngày trở lên mỗi tuần có nồng độ i-ốt niệu trung vị lên tới 372 microgram/L, cao hơn đáng kể so với nhóm ít hoặc không ăn (308 microgram/L), và chỉ có 6,7% trẻ bị thiếu hụt [2]. Do đó, việc tự ý bổ sung thêm các loại thực phẩm siêu đậm đặc i-ốt như rong biển vào thực đơn ăn dặm của trẻ dưới 1 tuổi dễ dẫn tới nguy cơ ngộ độc khoáng chất hơn là chữa thiếu vi chất.

Một quan niệm sai lầm khác là đun canh rong biển lấy nước nấu cháo thì hoàn toàn an toàn. Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh i-ốt từ rong biển hòa tan rất mạnh vào nước dùng; 250 mL nước canh rong biển vẫn chứa tới 500-1700 microgram i-ốt, ngay cả khi người dùng không hề ăn bã rong [1].

Ai nên thận trọng hoặc tránh dùng rong biển?

Nhóm đối tượng cần thận trọng cao nhất bao gồm:

  • Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi đang trong giai đoạn bắt đầu ăn dặm: Tuyệt đối không nên sử dụng rong biển nguyên bã hoặc nước luộc rong biển đậm đặc trong các bữa ăn hàng ngày.
  • Trẻ có tiền sử bất thường về hormone tuyến giáp, trẻ sinh non hoặc phát hiện nồng độ TSH cao trong các xét nghiệm sàng lọc sơ sinh [1], [7].
  • Phụ nữ đang cho con bú: Cần tránh thói quen uống canh rong biển nhiều cữ trong ngày nhằm mục đích kích sữa, bởi nồng độ i-ốt dư thừa sẽ bài tiết trực tiếp qua sữa mẹ, gây ức chế tuyến giáp của trẻ sơ sinh [1], [6], [3].
  • Gia đình có tiền sử bệnh lý tự miễn hoặc bệnh lý tuyến giáp: Bất kỳ thay đổi đột ngột nào về tải lượng i-ốt cũng có thể kích hoạt các phản ứng viêm hoặc rối loạn chuyển hóa phức tạp.

Cách tiếp cận dinh dưỡng an toàn cho trẻ

Để bảo đảm cung cấp vi chất cân bằng mà không gây hại cho đường tiêu hóa và tuyến giáp của trẻ, cha mẹ nên áp dụng các nguyên tắc sau:

  1. Ưu tiên sữa mẹ và thực phẩm ăn dặm tiêu chuẩn: Trẻ dưới 1 tuổi nhận đầy đủ i-ốt thông qua nguồn sữa mẹ dồi dào dinh dưỡng hoặc sữa công thức cùng bột ăn dặm đã qua kiểm định nghiêm ngặt [2].
  2. Trì hoãn việc dùng rong biển nguyên lá: Không cho trẻ dưới 1 tuổi nhai snack rong biển, ăn rong biển sấy cuộn cơm hay cháo nấu rong biển đặc. Hệ tiêu hóa non nớt của trẻ chưa sẵn sàng xử lý các chất xơ nhớt phức tạp và nguy cơ tích tụ asen vô cơ từ các loại tảo nâu [1], [4].
  3. Lựa chọn nguồn rong phù hợp khi trẻ lớn hơn: Khi trẻ trên 1 tuổi hoặc lớn hơn, nếu gia đình muốn cho trẻ làm quen với rong biển, nên ưu tiên các loại rong có nồng độ i-ốt và nguy cơ asen thấp hơn như nori (29,3-45,8 mg/kg) thay vì các loại tảo bẹ kombu có nồng độ i-ốt cực cao (lên tới 4921 mg/kg) [5], [4].
  4. Tham khảo ý kiến y khoa: Nếu trẻ có biểu hiện tiêu hóa kém, chậm tăng cân hoặc cha mẹ nghi ngờ chế độ ăn thừa thiếu vi chất, hãy chủ động tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng nhi khoa trước khi bổ sung bất kỳ sản phẩm từ rong tảo nào.

Rong biển là nguồn dinh dưỡng tự nhiên dồi dào hoạt chất quý đối với người trưởng thành nhưng lại tiềm ẩn rủi ro quá tải i-ốt và kích ứng cho trẻ dưới 1 tuổi [1], [8]. Một chế độ dinh dưỡng lành mạnh cho trẻ bắt đầu ăn dặm không nằm ở những thực phẩm kỳ thị trường mà đến từ sự cân bằng, đa dạng và phù hợp với giai đoạn phát triển sinh lý của cơ thể.