Nhiều người bệnh tăng huyết áp thường tìm kiếm các loại cây cỏ dân gian hoặc trà thảo mộc để uống hằng ngày với mong muốn hỗ trợ ổn định chỉ số tim mạch. Trong số đó, các thảo dược truyền thống bản địa như chùa dù (thuộc chi Elsholtzia) thường được truyền tai về nhiều công dụng bảo vệ sức khỏe. Thói quen này làm dấy lên một băn khoăn lớn: Liệu uống chùa dù cùng lúc với thuốc hạ áp có gây ra hiện tượng tương tác bất lợi hay làm hạ huyết áp quá mức hay không?

Câu trả lời ngắn gọn dựa trên y văn hiện nay là: Hiện chưa có bằng chứng lâm sàng trực tiếp nào ghi nhận việc sử dụng chùa dù gây tương tác giãn mạch cộng gộp hay làm hạ áp quá mức khi uống cùng thuốc tim mạch. Tuy nhiên, rủi ro tương tác bất lợi giữa các chế phẩm thảo dược nói chung với thuốc điều trị huyết áp đã được khoa học chứng minh là rất phổ biến, đòi hỏi người bệnh phải hết sức cẩn trọng.

Giả định về hiện tượng giãn mạch và hạ huyết áp cộng gộp

Về mặt lý thuyết dược lý, lo ngại lớn nhất khi kết hợp một loại cây cỏ tự nhiên với thuốc điều trị tim mạch là tương tác dược lực học. Tương tác này xảy ra khi cả hai chất cùng tác động lên một con đường sinh học, dẫn tới tác dụng hiệp đồng làm huyết áp tụt sâu ngoài tầm kiểm soát, gây chóng mặt, ngất xỉu hoặc thiếu máu não cục bộ.

Bên cạnh đó, tương tác dược động học cũng có thể diễn ra nếu các hợp chất trong cây can thiệp vào quá trình hấp thu, phân phối, chuyển hóa hoặc thải trừ của thuốc Tây qua gan và thận. Những thay đổi này có thể khiến nồng độ thuốc huyết áp trong máu tăng cao đột ngột dẫn đến độc tính, hoặc suy giảm làm mất hiệu lực điều trị bệnh nền.

Bằng chứng khoa học về chi thảo dược chùa dù

Cây chùa dù là tên gọi dân gian của một số loài thực vật thuộc chi Elsholtzia. Khi rà soát các nghiên cứu thực nghiệm hiện có, các nhà khoa học chủ yếu tập trung đánh giá tiềm năng kháng khuẩn của nhóm thực vật này hơn là tác động của chúng trên hệ tuần hoàn hay huyết áp.

Cụ thể, một nghiên cứu sàng lọc được thực hiện nhằm đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của các dịch chiết thảo dược đối với các chủng tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) phân lập từ lâm sàng [1]. Trong thử nghiệm này, các nhà khoa học đã thu thập 19 dịch chiết thực vật, tiến hành phân tích hóa thực vật dưới sự định hướng của xét nghiệm sinh học, xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) trên 9 chủng MRSA cùng 1 chủng đối chứng [1]. Kết quả cho thấy toàn bộ 19 loại cây đều có hoạt tính chống MRSA với dải MIC từ 1,25 đến 3,07 mg/ml [1].

Đáng chú ý, các loài thảo dược thuộc chi Elsholtzia gồm Elsholtzia rugulosa và Elsholtzia blanda nằm trong nhóm những loài thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất với giá trị MIC nhỏ hơn hoặc bằng 1,43 mg/ml [1]. Nghiên cứu đi đến kết luận rằng các loài thực vật này chứng minh tiềm năng kháng khuẩn đầy hứa hẹn chống lại MRSA [1]. Dữ liệu này chỉ ra rằng tác dụng sinh học được ghi nhận rõ nhất của các loài thuộc chi thảo dược này là đặc tính kháng khuẩn trong phòng thí nghiệm, hoàn toàn không có ghi nhận nào về khả năng giãn mạch, tác dụng hạ huyết áp hay can thiệp vào thuốc điều trị tim mạch ở người [1].

Bức tranh chung về nguy cơ tương tác giữa thảo dược và thuốc

Dù bằng chứng riêng về chùa dù còn thiếu vắng, nguy cơ tương tác bất lợi khi dùng chung thảo mộc với thuốc kê đơn là vấn đề sức khỏe cộng đồng đã được cảnh báo trên quy mô toàn cầu. Một tổng quan hệ thống dựa trên bằng chứng của Tổ chức Hợp tác Nghiên cứu Tiêu chuẩn Tự nhiên (Natural Standard Research Collaboration) công bố năm 2006 chỉ ra rằng việc sử dụng đồng thời thuốc kê đơn với các sản phẩm thảo dược hoặc vitamin ngày càng gia tăng [2]. Tình trạng này khiến ước tính khoảng 15 triệu bệnh nhân đối mặt với nguy cơ tương tác tiềm ẩn giữa thuốc và thực phẩm bổ sung [2].

Tổng quan hệ thống này nhằm củng cố các dữ liệu về những nhóm tương tác phổ biến nhất trong thực hành lâm sàng [2]. Trong đó, các nhóm điều trị và chuyển hóa chủ chốt bao gồm: thuốc hạ hoặc tăng đường huyết, thuốc hạ hoặc tăng huyết áp, thuốc lợi tiểu, thuốc an thần, glycoside trợ tim, thuốc ức chế monoamine oxidase, thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin, thuốc nhuận tràng, thuốc điều hòa miễn dịch, các chất làm tăng nguy cơ chảy máu hoặc đông máu, các chất có độc tính trên gan, các chất có đặc tính nội tiết tố và các tác nhân can thiệp hoạt động của enzym cytochrome P450 [2]. Việc tổng hợp này nhằm mục đích hỗ trợ các nhân viên y tế đưa ra quyết định an toàn trong điều trị [2].

Các số liệu thực tế từ hồ sơ bệnh án điện tử (EHR) và khảo sát thực tế tiếp tục củng cố mối nguy cơ này. Một nghiên cứu của tác giả Chi và cộng sự trên các đối tượng từ 60 tuổi trở lên chỉ ra rằng có tới 43,3% số người sử dụng đồng thời thảo dược và thuốc thông thường phải đối diện với nguy cơ tương tác bất lợi [3]. Trong số này, một nửa số trường hợp liên quan đến thảo dược có đặc tính chống đông [3]. Nghiên cứu quan sát cắt ngang nói trên đã phân tích bệnh án điện tử kết hợp khảo sát để phát hiện các loại thảo mộc và thuốc thường gặp nhất trong các tương tác, trong đó có thảo dược Nhân sâm, Bạch quả và các thuốc Tây quy ước thuộc nhóm thuốc chống huyết khối cũng như nhóm thuốc chẹn kênh canxi - một loại thuốc hạ áp kinh điển [3].

Bên cạnh đó, nghiên cứu cắt ngang của Levy và cộng sự sử dụng phương pháp kết hợp khảo sát và hồ sơ bệnh án cũng phát hiện 16,5% bệnh nhân dùng thảo dược cùng thuốc nằm viện tại khoa phẫu thuật có nguy cơ tương tác từ trung bình đến nặng với thuốc gây mê [3]. Ngoài ra, 19% người dùng thảo dược có nguy cơ xuất huyết quanh phẫu thuật do tương tác với thuốc chống huyết khối [3]. Một nghiên cứu khác của Drozdoff và cộng sự quan sát thấy 18,1% người dùng thảo mộc trong quá trình hóa trị ung thư vú và phụ khoa có nguy cơ gặp tương tác giữa thảo dược và thuốc chống ung thư được chuyển hóa, dù rất ít tương tác trong số đó được coi là có ý nghĩa lâm sàng [3].

Các cơ chế dược động học có thể xảy ra khi dùng thảo mộc

Sự can thiệp của thảo mộc vào chuyển hóa thuốc Tây y chủ yếu bắt nguồn từ các tác động dược động học phức tạp tại gan và ruột. Một bài tổng quan cập nhật năm 2023 về tương tác giữa thảo mộc và thuốc chỉ ra rằng sự phối hợp này có thể làm giảm hiệu quả, gia tăng độc tính, hoặc làm thay đổi quá trình hấp thu và phân bố thuốc do can thiệp vào các hiệu ứng dược lý hoặc dược động học [4]. Nghiên cứu này đã tóm tắt các cơ chế tương tác trong 10 năm qua dựa trên cơ sở dữ liệu PubMed, Science Direct và Web of Science, chỉ ra rằng tương tác dược động học thường liên quan đến 9 loại thảo dược phổ biến gồm Nhân sâm, Đan sâm, Bạch quả, Tỏi, Hoàng liên, Cỏ St. John's wort, Gừng, Cam thảo, Kế sữa và Ngũ vị tử [4].

Thảo mộc cũng thường tác động thông qua việc ức chế hoặc kích hoạt các enzym chuyển hóa và protein vận chuyển. Điển hình, nghiên cứu về loài thảo dược Eschscholzia californica (California Poppy) cho thấy các tương tác dược động học có ý nghĩa lâm sàng đa phần xảy ra do sự điều biến enzym cytochrome P450 (CYP), P-glycoprotein và thụ thể thụ thể X mang thai (PXR) [5]. Khi thử nghiệm chiết xuất cồn, chiết xuất nước (trà), các phân đoạn cloroform kiềm và các ancaloit chính (protopine, escholtzine, allocryptopine, californidine), các nhà nghiên cứu phát hiện chiết xuất cồn ức chế mạnh CYP 3A4, CYP 2C9, CYP 2C19 theo thời gian và ức chế thuận nghịch CYP 2D6 [5]. Escholtzine và allocryptopine ức chế CYP 3A4, CYP 2C9, CYP 2C19 phụ thuộc thời gian (tỷ lệ dịch chuyển IC50 > 2), trong khi protopine và allocryptopine ức chế thuận nghịch enzym CYP 2D6 [5]. Chiết xuất cồn, phân đoạn cloroform và hầu hết ancaloit (trừ protopine) kích hoạt thụ thể PXR trên 2 lần, làm tăng biểu hiện mRNA và hoạt tính của CYP 3A4 và CYP 1A2, dù không ảnh hưởng đến P-glycoprotein [5]. Ngược lại, chiết xuất nước dạng trà và ancaloit californidine hoàn toàn không ảnh hưởng đến cytochrome P450s, P-glycoprotein hay PXR, cho thấy dạng pha trà ít nguy cơ hơn đáng kể so với dịch chiết cồn đậm đặc [5].

Cơ chế enzym gan và protein vận chuyển P-glycoprotein điều hòa sự xâm nhập của các hợp chất vào mạch máu hoặc hàng rào máu não cũng là nguyên nhân gây ra tương tác dược động học và dược lực học ở nhiều thảo dược khác [6]. Tại chuyên khoa thận, bệnh nhân suy thận tiêu thụ thảo dược cũng đối mặt với nguy cơ do thay đổi hoạt tính men chuyển hóa CYP3A4 và protein vận chuyển thuốc, dẫn tới độc tính hoặc không đủ liều điều trị [7]. Đáng chú ý, các tương tác tiềm tàng của thảo dược ở bệnh nhân thận với các thuốc hạ huyết áp, thuốc trị tiểu đường hay thuốc chống đông mặc dù được thảo luận nhiều nhưng lại chưa được báo cáo đầy đủ trong thực tế [7]. Lý do chính là hiện tượng tương tác thường bị bỏ qua vì người bệnh không chủ động thông báo cho bác sĩ điều trị về việc mình đang dùng thảo dược [7].

Ngoài ra, ở nhóm thuốc điều trị rối loạn mỡ máu (thường dùng chung với bệnh nhân tim mạch), một tổng quan hệ thống phân tích 185 bài báo khoa học đã xác định 17 loại thảo mộc có tác dụng làm hạ chỉ số mỡ máu như triglyceride, cholesterol toàn phần hay LDL [8]. Tuy nhiên, tương tác giữa thảo mộc và thuốc statin có thể làm giảm khả năng hấp thu hoặc làm giảm nồng độ thuốc trong huyết tương, làm suy giảm hiệu quả điều trị hạ lipid máu [8].

Hiểu lầm thường gặp và ai nên thận trọng?

Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng cây cỏ thiên nhiên lành tính, không chứa hóa chất tổng hợp nên có thể sắc uống thoải mái thay nước lọc mà không gây hại. Đây là quan niệm sai lầm, bởi mỗi loại cây đều chứa hàng chục đến hàng trăm hợp chất có hoạt tính sinh học khác nhau, hoàn toàn có khả năng tạo phản ứng chéo với phân tử thuốc Tây y.

Nhóm người bệnh đặc biệt cần thận trọng bao gồm:

  • Người cao tuổi đang điều trị tăng huyết áp hoặc có nhiều bệnh lý mạn tính đi kèm, bởi đây là nhóm có tỷ lệ phơi nhiễm với nguy cơ tương tác thảo dược - thuốc cao nhất [3].
  • Bệnh nhân đang sử dụng nhóm thuốc hạ áp chẹn kênh canxi kết hợp nhiều loại thuốc tim mạch khác [3].
  • Người có tiền sử suy giảm chức năng gan hoặc thận, đối tượng rất nhạy cảm với sự thay đổi của enzym chuyển hóa cytochrome P450 [2], [7].

Áp dụng thực tế để đảm bảo an toàn

Để kiểm soát huyết áp ổn định mà vẫn tránh được các rủi ro tương tác bất lợi, người bệnh nên tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Không tự ý uống nước sắc đậm đặc từ chùa dù hoặc bất kỳ loại cây thuốc dân gian nào khi đang trong liệu trình dùng thuốc hạ áp theo toa.
  • Luôn uống thuốc hạ áp đúng giờ, đúng liều lượng và cách xa thời điểm dùng các loại trà thảo mộc nhẹ ít nhất 2 đến 3 giờ để giảm thiểu nguy cơ cạnh tranh hấp thu tại đường tiêu hóa.
  • Theo dõi huyết áp đều đặn mỗi ngày bằng máy đo tại nhà. Nếu xuất hiện các dấu hiệu tụt áp như chóng mặt, hoa mắt, choáng váng khi đứng dậy, cần dừng ngay việc uống thảo dược.
  • Khai báo trung thực và đầy đủ với bác sĩ điều trị về tất cả các loại trà thảo mộc, thuốc nam hoặc thực phẩm bổ sung đang sử dụng hằng ngày để được tư vấn chính xác.

Tóm lại, hiện chưa có nghiên cứu chứng minh uống chùa dù cùng thuốc hạ áp sẽ gây hiện tượng giãn mạch hạ áp cộng gộp bất lợi. Tuy nhiên, nguy cơ tương tác giữa thảo dược và các nhóm thuốc tim mạch luôn hiện hữu và đã được ghi nhận rộng rãi. Người bệnh tuyệt đối không nên tự ý kết hợp bừa bãi và cần tham khảo ý kiến chuyên môn từ bác sĩ để bảo vệ an toàn sức khỏe bản thân.