Mảnh cộng và thói quen tùy tiện kết hợp với thuốc tây
Cây mảnh cộng, còn được biết đến với tên gọi dân dã là bìm bịp hay xương khỉ (tên khoa học là Clinacanthus nutans), từ lâu đã quen thuộc trong đời sống của nhiều người dân Đông Nam Á [1]. Tại Việt Nam, Thái Lan hay Malaysia, loài cây này thường được dùng như một loại rau ăn kèm hoặc nấu nước uống hằng ngày [1]. Rất nhiều người truyền tai nhau việc sắc lá mảnh cộng để bồi bổ, làm mát gan hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính như tiểu đường, huyết áp cao, thậm chí dùng kèm trong quá trình điều trị ung thư [1], [2].
Chính vì suy nghĩ thảo dược thiên nhiên lành tính và không có tác dụng phụ, không ít người bệnh đã tự ý uống nước sắc mảnh cộng cùng lúc với các loại thuốc tây điều trị bệnh nền. Hành động tưởng chừng vô hại này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe mà người dùng không hề hay biết. Khi vào cơ thể, các hợp chất tự nhiên trong thảo mộc hoàn toàn có thể can thiệp trực tiếp vào quá trình hấp thu và đào thải của thuốc tây.
Hệ quả là nồng độ thuốc tây trong máu có thể tăng vọt bất thường hoặc giảm sút ngoài dự tính của bác sĩ điều trị. Các nghiên cứu dược lý hiện đại cảnh báo rằng chiết xuất mảnh cộng có khả năng tương tác bất lợi với thuốc thông qua việc ức chế các enzym chuyển hóa quan trọng tại gan [3].
Cơ chế chuyển hóa tại gan và hệ thống enzym CYP450
Để hiểu rõ mối nguy hiểm khi uống mảnh cộng chung với thuốc tây, người bệnh cần nắm được cách gan xử lý các chất lạ đưa vào cơ thể. Hầu hết các loại thuốc tây sau khi uống vào ruột sẽ được hấp thu vào máu và đưa thẳng đến gan để xử lý. Tại đây, một hệ thống các enzym chuyên trách có tên gọi là Cytochrome P450 (gọi tắt là CYP450) sẽ đảm nhận nhiệm vụ phân giải và biến đổi cấu trúc của thuốc.
Nhờ quá trình chuyển hóa này, các hoạt chất của thuốc tây mới được bất hoạt đúng thời điểm và đào thải an toàn ra ngoài qua đường nước tiểu hoặc phân. Nếu hệ thống CYP450 hoạt động bình thường, nồng độ thuốc trong máu sẽ luôn duy trì ở mức ổn định, vừa đủ để phát huy tác dụng chữa bệnh mà không gây độc cho các cơ quan.
Tuy nhiên, nếu một chất nào đó làm tê liệt hoặc ức chế hoạt động của các enzym CYP450, thuốc tây sẽ không thể phân giải theo tốc độ thông thường. Lúc này, lượng thuốc tồn dư sẽ tích tụ ngày càng nhiều trong hệ tuần hoàn, khiến nồng độ thuốc tăng cao vượt ngưỡng an toàn. Tình trạng này kéo theo nguy cơ ngộ độc thuốc và gia tăng đột biến các phản ứng phụ nguy hiểm cho người bệnh.
Nghiên cứu chỉ ra mảnh cộng ức chế enzym then chốt CYP3A4 và CYP2E1
Khả năng can thiệp của cây mảnh cộng lên các enzym gan đã được các nhà khoa học chứng minh rõ ràng trong phòng thí nghiệm. Một nghiên cứu công bố năm 2017 đã tiến hành đánh giá tác động của dịch chiết methanol từ lá mảnh cộng lên hệ thống vi thể gan người (human liver microsomes) [3]. Kết quả ghi nhận dịch chiết lá mảnh cộng làm giảm hoạt tính của hai enzym chuyển hóa chủ chốt là CYP3A4 và CYP2E1 một cách rõ rệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.05 [3].
Trong đó, CYP3A4 là enzym quan trọng nhất của hệ thống enzym gan, chịu trách nhiệm chuyển hóa tới hơn một nửa số lượng thuốc điều trị đang được lưu hành trên thị trường hiện nay. Nghiên cứu kết luận rằng khả năng tương tác giữa thảo dược và thuốc tây hoàn toàn có thể xảy ra khi dùng mảnh cộng, bắt nguồn chính từ tác dụng ức chế trực tiếp lên enzym CYP3A4 [3].
Đối với enzym CYP2E1, việc dịch chiết ức chế enzym này có thể đem lại một số tác động chống sinh ung thư trong mô hình vi thể gan người [3]. Tuy nhiên, xét dưới góc độ tương tác thuốc, sự can thiệp vào CYP2E1 vẫn làm thay đổi con đường chuyển hóa thông thường của các hợp chất cần enzym này xử lý, từ đó làm tăng nguy cơ quá tải chuyển hóa ở gan [3].
Cũng trong công trình này, dịch chiết lá mảnh cộng thể hiện độc tính tế bào cao nhất đối với dòng tế bào ung thư gan Hep-G2 với giá trị nồng độ ức chế một nửa IC50 là 13,33 microgam/mL [3]. Tiếp theo đó là tác động trên dòng tế bào ung thư vú thụ thể estrogen âm tính MDA-MB-231 với giá trị IC50 đạt 18,67 microgam/mL [3]. Những số liệu này khẳng định các hoạt chất trong mảnh cộng có hoạt tính sinh học rất mạnh và tác động sâu rộng tới các phản ứng tế bào [3].
Mô phỏng máy tính dự báo tác động ức chế enzym CYP2D6
Không dừng lại ở CYP3A4, các nhà khoa học còn phát hiện mảnh cộng có khả năng tương tác với một enzym chuyển hóa quan trọng khác là CYP2D6. Trong một nghiên cứu công bố năm 2016, các nhà khoa học đã tiến hành mô phỏng gắn kết phân tử và đánh giá đặc tính dược động học của 11 hợp chất phân lập từ cây mảnh cộng [4]. Các hợp chất được đánh giá gồm clinacoside A, clinacoside B, clinacoside C, cycloclinacoside A1, shaftoside, vitexin, orientin, isovitexin, isoorientin, lupeol và beta-sitosterol [4].
Quy trình phân tích ADMET (hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ và độc tính) bằng công nghệ máy tính đã đưa ra dự báo đáng chú ý về mặt chuyển hóa [4]. Ngoại trừ hai chất là orientin và isoorientin, toàn bộ các hợp chất còn lại của mảnh cộng được dự đoán đều có khả năng gây ức chế enzym Cytochrome P450 2D6 (CYP2D6) [4].
Enzym CYP2D6 là con đường chuyển hóa của rất nhiều loại thuốc tây thiết yếu như thuốc tim mạch, thuốc chẹn beta, thuốc chống loạn nhịp và nhiều loại thuốc thần kinh. Sự hiện diện của hàng loạt hoạt chất như clinacoside A-C hay lupeol cùng lúc ức chế CYP2D6 là một tín hiệu cảnh báo quan trọng [4]. Khi người bệnh dùng song song mảnh cộng với các thuốc chuyển hóa qua CYP2D6, nguy cơ thuốc chậm đào thải và tích tụ độc tính là hoàn toàn có cơ sở khoa học [4].
Nghiên cứu mô phỏng phân tử năm 2016 cũng chỉ ra rằng tất cả 11 hợp chất kể trên đều có điểm số hoạt tính sinh học dương đối với việc ức chế enzym [4]. Trong đó, isovitexin và isoorientin cho thấy tiềm năng gắn kết phân tử với cả 6 loại enzym đích được khảo sát gồm xanthine oxidase, nitric oxide synthase, human neutrophil elastase, squalene synthase cùng hai enzym metallic matrix proteinase là MMP 2 và MMP 9 [4]. Điều này cho thấy các hoạt chất trong mảnh cộng có khả năng tương tác sinh học rất đa dạng trên nhiều hệ thống enzym của cơ thể [4].
Độc tính tế bào và thành phần flavonoid trong lá mảnh cộng
Để hiểu rõ hơn về mức độ an toàn của thảo dược này, các thử nghiệm độc tính tế bào cũng đã được thực hiện nghiêm ngặt. Một nghiên cứu công bố năm 2016 trên dòng tế bào nguyên bào sợi của chuột (L929) đã kiểm tra độc tính của mảnh cộng ở các nồng độ 0,01%, 0,1%, 0,25% và 0,5% khối lượng/thể tích trong 24 giờ [5]. Hai phương pháp đánh giá độ sống của tế bào là MTT và hấp thu đỏ trung tính (NRU) cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về độc tính giữa hai thử nghiệm với giá trị p > 0,05 [5]. Nghiên cứu chỉ ra thảo dược này thường xuất hiện trong mỹ phẩm, kem đánh răng hay nước súc miệng và cần được đánh giá kỹ lưỡng để tránh tổn thương mô [5].
Về mặt hóa học thực vật, lá mảnh cộng chứa hàm lượng flavonoid nhóm C-glycoside rất phong phú [6]. Nghiên cứu định lượng năm 2014 sử dụng phương pháp sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao và sắc ký lỏng hiệu năng cao đã xác định rõ nồng độ các chất chính trong mẫu lá [6]. Hàm lượng shaftoside dao động từ 2,55 đến 17,43 mmol/g, orientin từ 0,00 đến 0,86 mmol/g, vitexin từ 0,00 đến 2,01 mmol/g và isovitexin từ 0,00 đến 0,91 mmol/g [6].
Sự hiện diện đậm đặc của các hoạt chất này giải thích vì sao chiết xuất mảnh cộng lại thể hiện tác động dược lý mạnh mẽ [6], [7]. Trong một nghiên cứu năm 2018 trên tế bào u lympho SUP-T1 và tế bào bạch cầu MOLT-4, dịch chiết axeton của mảnh cộng làm tăng tỷ lệ tế bào chết theo chương trình từ 4,28% lên 43,65% [2]. Chiết xuất này cũng làm gián đoạn điện thế màng ty thể từ 11,79% đến 26,93%, đồng thời làm tăng các gốc oxy hóa tự do thêm 19,54% và tăng nồng độ ion canxi nội bào lên tới 233,83% [2].
Mặc dù các dữ liệu này mở ra tiềm năng nghiên cứu chống khối u, chúng đồng thời khẳng định chiết xuất mảnh cộng can thiệp sâu sắc vào cân bằng sinh hóa tế bào [2]. Do đó, việc tự ý đưa một lượng lớn các chất này vào cơ thể người đang phải dùng thuốc điều trị tiềm ẩn rủi ro xáo trộn chuyển hóa rất cao [3], [2].
Những nhóm thuốc tây cần đặc biệt cảnh giác khi dùng chung
Căn cứ vào bằng chứng mảnh cộng ức chế CYP3A4, CYP2E1 và có nguy cơ ức chế CYP2D6, người bệnh đang dùng các nhóm thuốc sau đây cần hết sức lưu tâm [4], [3].
Đầu tiên là nhóm thuốc tim mạch và huyết áp. Nhiều loại thuốc chẹn kênh canxi, thuốc hạ mỡ máu nhóm statin hay thuốc chống loạn nhịp đều được gan chuyển hóa thông qua enzym CYP3A4 hoặc CYP2D6. Khi uống chung với nước sắc mảnh cộng đậm đặc, enzym chuyển hóa bị kìm hãm có thể khiến nồng độ thuốc tim mạch trong máu tăng vọt [3]. Người bệnh có thể gặp phải các biến chứng hạ huyết áp quá mức, rối loạn nhịp tim hoặc đau cơ tiêu cơ vân do quá liều statin.
Nhóm thứ hai là các thuốc ức chế miễn dịch và thuốc điều trị ung thư. Đây là những loại thuốc có khoảng trị liệu cực kỳ hẹp, chỉ cần nồng độ thuốc dao động nhẹ là có thể dẫn tới thất bại điều trị hoặc gây ngộ độc tạng nghiêm trọng. Nếu mảnh cộng làm chậm quá trình thanh thải của các thuốc này qua trung gian enzym CYP3A4, độc tính trên gan và thận sẽ tăng lên rất nhiều lần [3].
Nhóm thứ ba là các thuốc thần kinh, thuốc chống trầm cảm và an thần. Rất nhiều thuốc an thần được gan dọn dẹp nhờ hệ CYP3A4 và CYP2D6. Việc dùng mảnh cộng song song có thể kéo dài thời gian bán thải của thuốc, dẫn tới tình trạng ngủ li bì, ức chế hô hấp hoặc suy giảm nhận thức. Dù một số tài liệu truyền thống nhắc đến việc mảnh cộng được dùng để hạ huyết áp hay hỗ trợ tiểu đường, người bệnh tuyệt đối không được tự ý kết hợp với thuốc tây mà không có sự kiểm soát của bác sĩ [2].
Khoảng trống bằng chứng khoa học và những đối tượng cần thận trọng
Người bệnh cần nhìn nhận khách quan về giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện tại. Thử nghiệm ghi nhận mảnh cộng ức chế enzym CYP3A4 và CYP2E1 mới chỉ dừng lại ở mức độ in vitro trên mẫu mô hình vi thể gan người trong ống nghiệm [3]. Tương tự, dữ liệu về khả năng ức chế CYP2D6 chỉ là kết quả dự báo qua thuật toán mô phỏng máy tính ADMET [4].
Cho đến nay, chưa có các thử nghiệm lâm sàng đối chứng trực tiếp trên người sống để xác định chính xác liều lượng mảnh cộng bao nhiêu thì bắt đầu gây ngộ độc hoặc tương tác lâm sàng rõ rệt. Dữ liệu khoa học trên các đối tượng nhạy cảm như phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ hoàn toàn chưa được thiết lập. Do đó, người bệnh không nên dựa vào các lời truyền miệng mà xem nhẹ nguy cơ này.
Những người mắc bệnh gan mạn tính như xơ gan, viêm gan B, viêm gan C hoặc suy giảm chức năng thận cần tuyệt đối thận trọng. Khi gan đã bị tổn thương sẵn, khả năng bù trừ của hệ thống enzym chuyển hóa vốn đã rất kém. Uống thêm mảnh cộng có thể làm tình trạng quá tải ở gan trở nên trầm trọng hơn [3]. Người cao tuổi đang phải uống phối hợp nhiều loại thuốc tây cùng lúc cũng là đối tượng có nguy cơ tương tác thuốc cao nhất.
Áp dụng thực tế để đảm bảo an toàn cho người bệnh
Để phòng ngừa những biến cố tương tác thuốc đáng tiếc, người dùng cần tuân thủ các nguyên tắc an toàn khi tiếp cận với cây mảnh cộng.
Trước hết, nếu đang trong quá trình điều trị bất kỳ bệnh lý nào bằng thuốc kê đơn, người bệnh phải thông báo trung thực với bác sĩ về ý định sử dụng mảnh cộng. Bác sĩ hoặc dược sĩ lâm sàng sẽ tra cứu các con đường chuyển hóa của những loại thuốc người bệnh đang dùng để đánh giá nguy cơ quá tải trên enzym gan [3].
Tuyệt đối không tự ý dùng nước sắc mảnh cộng đậm đặc để uống thuốc tây. Nếu muốn sử dụng mảnh cộng như một loại trà giải nhiệt thông thường, chỉ nên dùng lượng vừa phải và uống cách xa thời điểm uống thuốc tây ít nhất từ 2 đến 4 giờ. Việc giãn cách thời gian này phần nào giúp dạ dày và ruột hấp thu từng chất riêng biệt, giảm bớt nguy cơ cạnh tranh hấp thu trực tiếp tại đường tiêu hóa.
Trong suốt quá trình sử dụng, nếu phát hiện bất kỳ dấu hiệu bất thường nào như mệt mỏi dữ dội, vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu, hoa mắt chóng mặt hoặc hồi hộp đánh trống ngực, người bệnh cần dừng ngay mảnh cộng và đến cơ sở y tế kiểm tra chức năng gan. Thảo mộc tự nhiên chỉ phát huy giá trị khi được dùng đúng cách, đúng liều lượng và không cản trở phác đồ điều trị chính thống.





