Cây mảnh cộng (tên khoa học: Clinacanthus nutans, hay còn gọi là bìm bịp, lá khỉ) từ lâu đã quen thuộc trong dân gian như một vị thuốc mát gan, giải độc và chữa lành vết thương [4, 7]. Khi gặp các vấn đề ngoài da như zona thần kinh, mụn rộp hay viêm nhiễm, nhiều người thường phân vân không biết nên dùng cành lá tươi sắc nước uống hay tìm mua dạng kem bôi, thuốc xịt ngoài da.

Các thử nghiệm lâm sàng và công nghệ bào chế hiện đại chứng minh: dạng bôi ngoài da đã chuẩn hóa đem lại hiệu quả kháng virus và phục hồi tổn thương da liễu rõ rệt [1, 2]. Trong khi đó, việc sắc nước uống thô hiện chủ yếu có bằng chứng về an toàn độc tính cấp đường tiêu hóa, chứ chưa có thử nghiệm lâm sàng khẳng định hiệu lực điều trị các bệnh da liễu trực tiếp [1].

Hoạt chất và cơ chế tác động trên da

Mảnh cộng chứa nhiều nhóm hợp chất chuyển hóa thứ cấp quan trọng, bao gồm các flavonoid và hợp chất phenolic tự nhiên [2]. Các hoạt chất này có khả năng dọn dẹp các gốc tự do thông qua hoạt tính chống oxy hóa [2]. Khi cơ thể đối mặt với tổn thương hoặc nhiễm trùng, gốc tự do tích tụ quá mức có thể làm chậm quá trình sửa chữa tế bào và kéo dài hiện tượng viêm [4, 6].

Bên cạnh khả năng chống oxy hóa, dịch chiết mảnh cộng còn thể hiện đặc tính kháng viêm thông qua việc ức chế sản sinh nitric oxide (NO) – một chất trung gian hóa học gây phản ứng viêm cục bộ [3]. Khi tiếp xúc trực tiếp trên vùng da bệnh, các phân tử này làm dịu phản ứng sưng tấy, bảo vệ mô và thúc đẩy quá trình co mép vết thương để tạo mô hạt mới [2]. Ở cấp độ vi sinh, dịch chiết thực vật này còn cho thấy khả năng kháng khuẩn, ức chế sự hình thành màng sinh học (biofilm) của vi khuẩn gây hại như Streptococcus mutans và Staphylococcus aureus [3].

Dạng kem bôi chuẩn hóa: Bằng chứng lâm sàng trên người

Hiệu quả điều trị các bệnh da liễu do virus của dạng bôi đã được ghi nhận trên thử nghiệm thực tế [4]. Năm 1995, một thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược đã đánh giá hiệu quả của dạng thuốc bôi chứa dịch chiết mảnh cộng (Clinacanthus nutans) trên 51 bệnh nhân nhiễm virus varicella-zoster (gây bệnh zona thần kinh) [4].

Trong thử nghiệm này, bệnh nhân được chỉ định bôi thuốc với tần suất 5 lần mỗi ngày, liên tục từ 7 đến 14 ngày cho tới khi thương tổn lành hẳn [4]. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đóng vảy tổn thương trong vòng 3 ngày, cũng như lành vết thương trong vòng 7 ngày và 10 ngày ở nhóm dùng dịch chiết mảnh cộng cao hơn rõ rệt so với nhóm dùng giả dược (p < 0,01) [4]. Điểm số đau đớn của bệnh nhân ở nhóm dùng hoạt chất cũng giảm nhanh hơn nhóm đối chứng, đặc biệt không ghi nhận bất kỳ tác dụng phụ nào của thuốc bôi trên người bệnh [4].

Dạng sắc uống thô: Dữ liệu an toàn nhưng thiếu kiểm chứng lâm sàng

Nhiều người có thói quen hái lá mảnh cộng tươi hoặc phơi khô để đun sắc uống với hy vọng thải độc da từ bên trong. Nghiên cứu độc học năm 2018 theo hướng dẫn OECD 423 trên chuột Sprague Dawley đã đánh giá độ an toàn của dạng dịch chiết nước từ lá mảnh cộng [1]. Chuột thí nghiệm được cho uống một liều duy nhất lên tới 5000 mg/kg thể trọng và theo dõi liên tục trong 14 ngày [1].

Kết quả đánh giá thông thường qua các chỉ số trọng lượng cơ thể, lượng thức ăn, nước uống, huyết học, hóa sinh và giải phẫu bệnh học cho thấy không có dấu hiệu ngộ độc bất thường [1]. Phân tích chuyển hóa nước tiểu ghi nhận sự thay đổi nhẹ về chuyển hóa carbohydrate, năng lượng và axit amin sau 2 giờ, nhưng các mốc ngày 1, 5, 10 và 15 cho thấy chuột không tích lũy các dấu ấn sinh học gây độc [1]. Thử nghiệm kết luận việc uống một liều duy nhất nước chiết lá mảnh cộng tới 5000 mg/kg thể trọng là an toàn trên mô hình động vật [1].

Tuy nhiên, giới hạn lớn của dạng uống là thiếu hoàn toàn các dữ liệu lâm sàng đối chứng về việc nước sắc thô có thể chữa khỏi các bệnh nhiễm trùng da, zona hay làm lành vết loét như dạng bôi ngoài hay không [1, 7].

Công nghệ bào chế: Bước đột phá ngoài da

Để các hoạt chất thấm sâu qua hàng rào biểu bì, công nghệ dược phẩm đã phát triển các dạng bào chế mới nhằm tối ưu hóa dược lực học [2, 3]. Một nghiên cứu năm 2022 đã ứng dụng thiết kế đa yếu tố nhằm tối ưu hóa dung dịch xịt ngoài da từ mảnh cộng [5]. Dạng xịt này được nghiên cứu với mục tiêu khô nhanh, giảm độ bết dính và tăng diện tích bao phủ bề mặt da tổn thương [5].

Công thức tối ưu hóa gồm 0,1% polyvinylpyrrolidone, 1,0% glycerol cùng tỷ lệ dung môi acetone:ethanol là 59:41, đạt độ bết dính 92,24 mN, độ nhớt 4,63 cP, tốc độ bay hơi 0,0959% và bán kính bao phủ 9,40 cm, chứng minh khả năng đưa vào thực tiễn sử dụng [5]. Ở một bước tiến khác, nghiên cứu năm 2024 chỉ ra rằng dịch chiết mảnh cộng 95% ethanol dạng nhũ tương nano (nanoemulsion) cho hiệu quả vượt trội hơn hẳn dịch chiết thông thường trong việc kháng khuẩn, chống màng sinh học và giảm viêm [3]. Dạng nano giúp hạt thuốc phân tán mịn hơn, tăng khả năng tiếp xúc trực tiếp với mô tổn thương [3].

Chữa lành vết thương: Nghiên cứu tiền lâm sàng

Tác dụng hỗ trợ phục hồi thương tổn của mảnh cộng cũng được kiểm nghiệm qua mô hình kết hợp thảo dược năm 2016 [2]. Nghiên cứu kiểm tra sự kết hợp giữa mảnh cộng và bồ công anh cảnh (Elephantopus scaber) trên mô hình vết thương cắt bỏ (excision), vết thương rạch (incision) và vết thương bỏng (burn) ở động vật [2]. Hoạt tính chống oxy hóa được đo lường thông qua thử nghiệm bắt gốc tự do DPPH [2].

Kết quả cho thấy phân đoạn ethyl acetate của công thức kết hợp có hoạt tính nhanh nhất (EC50 14,83 microgam/mL) với tỷ lệ ức chế 89,28% [2]. Đáng chú ý, phân đoạn ethyl acetate đạt hiệu quả co rút vết thương cao nhất trên mô hình vết thương cắt bỏ (P < 0,001) và vết rạch (P < 0,0001) [2]. Đối với mô hình bỏng da, phân đoạn nước mang lại hiệu quả cao nhất (P < 0,001) rồi mới đến ethyl acetate (P < 0,0001) [2]. Điều này cho thấy các phân đoạn chiết xuất khác nhau tác động vào từng loại tổn thương da khác nhau [2]. Thử nghiệm độc tính tế bào trên nguyên bào sợi chuột (dòng tế bào L929) ở các nồng độ từ 0,01% đến 0,5% trong 24 giờ cũng cho thấy sự tương quan nhất quán giữa các phương pháp thử nghiệm MTT và NRU, xác lập hồ sơ an toàn tế bào cơ bản trước khi ứng dụng [6].

Những hiểu lầm cần tránh khi dùng mảnh cộng

Dân gian tại một số quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia thường truyền tụng mảnh cộng là thảo mộc giải nọc rắn cắn [5, 7]. Tuy nhiên, một nghiên cứu thực nghiệm đã bác bỏ hoàn toàn quan niệm này [7]. Dịch chiết nước từ lá mảnh cộng không có khả năng ức chế hiện tượng tắc nghẽn dẫn truyền thần kinh cơ do độc tố rắn hổ mang (Naja naja siamensis) trên chế phẩm cơ hoành chuột [7].

Khi cho chuột nhắt dùng dịch chiết mảnh cộng qua đường uống hoặc tiêm màng bụng, thảo mộc này không kéo dài được thời gian sống của động vật trước liều độc gây chết từ nọc rắn [7]. Ngay cả khi dịch chiết được xử lý trước bằng men alpha-amylase hoặc beta-amylase thì cũng không mang lại tác dụng bảo vệ [7]. Do đó, tuyệt đối không dùng mảnh cộng để sơ cứu rắn cắn vì phương pháp này hoàn toàn vô hiệu, gây nguy hiểm đến tính mạng [7]. Ngoài ra, dù mảnh cộng thể hiện hoạt tính kháng ung thư, ức chế tăng sinh và chu kỳ tế bào trong các mô hình thí nghiệm, các dữ liệu này vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu phân tử, không thể xem là thuốc điều trị thay thế liệu pháp y khoa [8].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Người có vết thương hở sâu, vết loét trợt nhiễm trùng nặng, hoại tử không nên tự ý giã đắp cành lá mảnh cộng tươi từ vườn nhà. Dù lá cây có hoạt tính sinh học [2], việc đắp dược liệu thô chưa qua tiệt trùng có thể đưa thêm vi khuẩn lạ vào vết rách da, gây bội nhiễm nguy hiểm.

Dù nghiên cứu dịch chiết dạng nhũ tương nano ghi nhận khả năng ức chế enzym alpha-glucosidase [3], người mắc bệnh đái tháo đường đang dùng thuốc hạ đường huyết cần thận trọng, không tự ý uống nước sắc đậm đặc kéo dài khi chưa tham khảo ý kiến bác sĩ. Hiện chưa có nghiên cứu an toàn và hiệu quả đầy đủ trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ; các đối tượng này tuyệt đối không tự ý uống nước sắc thảo mộc liều cao.

Gợi ý cách áp dụng thực tế

Đối với các tổn thương da liễu nhẹ như zona thần kinh hoặc mụn rộp đã được chẩn đoán, người bệnh nên ưu tiên sử dụng các chế phẩm dạng kem bôi ngoài da đã được kiểm định chất lượng và cấp phép y tế [4]. Tuân thủ hướng dẫn thoa thuốc tại chỗ nhiều lần trong ngày (như mức 5 lần/ngày trong thử nghiệm lâm sàng) cho tới khi tổn thương se khô và đóng vảy hoàn toàn [4].

Nếu muốn dùng lá mảnh cộng sắc nước uống như một dạng trà giải nhiệt thông thường, người tiêu dùng chỉ nên dùng với lượng vừa phải, kết hợp cùng chế độ dinh dưỡng cân bằng và uống đủ nước lọc. Luôn giữ vệ sinh da sạch sẽ bằng nước muối sinh lý trước khi bôi thuốc. Khi xuất hiện các dấu hiệu sốt cao, nốt phỏng mủ lan rộng hoặc đau nhức dữ dội, người bệnh cần tới ngay cơ sở y tế chuyên khoa Da liễu để được thăm khám và điều trị kịp thời.

Mảnh cộng là dược liệu giàu tiềm năng, nhưng hiệu lực sinh học trên da liễu hiện nghiêng rõ rệt về các dạng bôi ngoài da đã qua chiết xuất, chuẩn hóa [1, 2]. Nước sắc thô chỉ dừng lại ở bằng chứng an toàn độc học đường uống [1], không thể thay thế cho các chế phẩm đặc trị bôi ngoài da.