Thiếu hụt vitamin D là tình trạng phổ biến trong cộng đồng, khiến nhu cầu bổ sung vi chất này ngày càng gia tăng. Khi cầm trên tay đơn thuốc hoặc lọ thực phẩm bổ sung, nhiều người thường băn khoăn nên uống một viên nhỏ mỗi ngày hay chọn loại liều cao uống dồn mỗi tuần. Việc lựa chọn cách dùng nào để vừa tiện lợi vừa duy trì lượng vitamin ổn định trong máu là thắc mắc rất thực tế.
Xét về tổng nồng độ đạt được sau một đợt bổ sung, cả hai cách đều mang lại hiệu quả nâng nồng độ vitamin D trong máu tương đương nhau [1, 8]. Tuy nhiên, xét về dược động học và độ ổn định lâu dài, việc bổ sung hàng ngày giúp cơ thể duy trì nồng độ ổn định hơn, tránh hiện tượng bão hòa enzym hoặc kích hoạt enzym thoái hóa [1].
Cơ chế chuyển hóa khi dùng liều chia nhỏ và liều dồn
Vitamin D sau khi hấp thu vào cơ thể sẽ được chuyển hóa tại gan thành 25-hydroxyvitamin D [viết tắt là 25(OH)D], thước đo chính phản ánh mức vitamin D trong huyết thanh. Một giả định phổ biến là dạng vitamin D tan trong chất béo sẽ được tích trữ tại mô mỡ khi dùng liều cao (bolus), sau đó phóng thích dần ra máu [1].
Dù vậy, một nghiên cứu dược động học năm 2020 chỉ ra rằng khi dùng cùng một tổng liều tích lũy, việc uống hàng ngày giúp cơ thể hấp thu và phơi nhiễm 25(OH)D hiệu quả hơn dùng hàng tuần [1]. Nguyên nhân xuất phát từ hoạt động của hệ thống enzym chuyển hóa. Liều cao dồn một lúc dễ làm bão hòa enzym 25-hydroxylase hoặc kích thích mạnh enzym 24-hydroxylase - loại enzym chuyên thoái hóa vitamin D [1]. Hiện tượng này dẫn đến việc tạo ra nhiều sản phẩm phân hủy 24,25(OH)2D hơn so với khi chia nhỏ liều uống đều đặn mỗi ngày [1].
Các thử nghiệm lâm sàng so sánh trực tiếp
Nhiều nghiên cứu đối đầu đã được thực hiện nhằm kiểm tra xem liệu việc dồn liều theo tuần hay tháng có làm giảm hiệu quả phục hồi nồng độ vitamin D hay không.
Năm 2008, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên được thực hiện trên 48 phụ nữ cao tuổi (trung bình 81 tuổi) sau phẫu thuật gãy xương hông [2]. Nhóm nghiên cứu chia bệnh nhân thành ba nhóm dùng vitamin D3 trong 2 tháng với tổng liều như nhau: nhóm 1.500 IU mỗi ngày, nhóm 10.500 IU mỗi tuần, và nhóm 45.000 IU mỗi 28 ngày [2]. Nồng độ 25(OH)D ban đầu lần lượt là 15,13 ng/ml; 15,7 ng/ml và 16,2 ng/ml [2]. Sau 2 tháng, chỉ số 25(OH)D ở nhóm dùng hàng ngày đạt 33,2 ng/ml, nhóm hàng tuần đạt 29,2 ng/ml, và nhóm hàng tháng đạt 37,1 ng/ml [2]. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, cho thấy cả ba phác đồ đều nâng chỉ số về mức bình thường tương đương nhau [2].
Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nhãn mở kéo dài 3 tháng vào năm 2017 trên 64 người lớn bị thiếu vitamin D (dưới 20 ng/ml) cũng cho kết quả tương tự [3]. Ba nhóm được phân bổ dùng liều tương đương: 1.000 IU mỗi ngày, 7.000 IU mỗi tuần, hoặc 30.000 IU mỗi tháng [3]. Mức tăng 25(OH)D tính trên mỗi 1.000 IU ở nhóm ngày là 13,0 ng/ml; nhóm tuần là 12,6 ng/ml và nhóm tháng là 12,9 ng/ml [3]. Cả ba nhóm đều đưa nồng độ vượt mốc 20 ng/ml mà không ghi nhận sự khác biệt nào về an toàn [3].
Nghiên cứu trên trẻ nhỏ cũng ghi nhận tính tương đồng này. Năm 2008, một thử nghiệm ngẫu nhiên trong 6 tuần trên 40 trẻ nhũ nhi và trẻ mới biết đi bị hạ vitamin D (dưới 20 ng/ml) đã so sánh 3 phác đồ: vitamin D2 2.000 IU mỗi ngày, vitamin D2 50.000 IU mỗi tuần, và vitamin D3 2.000 IU mỗi ngày [4]. Sau 6 tuần, nồng độ 25(OH)D ở tất cả các nhóm đều tăng gấp khoảng 3 lần, các chỉ số canxi máu và ức chế hormone cận giáp (PTH) đều tương đương nhau, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa phác đồ ngày và tuần [4].
Hiệu quả đối với sức khỏe miễn dịch và bệnh lý
Dù nồng độ 25(OH)D đo được trong máu có thể tăng ngang nhau sau vài tháng, tần suất dùng thuốc dường như lại tác động khác biệt đến các kết quả lâm sàng chuyên biệt, chẳng hạn như phòng ngừa nhiễm trùng đường hô hấp.
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp lớn năm 2020 đánh giá hiệu quả phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp cấp tính từ các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng [5]. Kết quả phân tích cho thấy việc bổ sung vitamin D đem lại tác dụng bảo vệ khiêm tốn với tỷ số chênh gộp (OR) là 0,91 [5]. Đáng chú ý, tác dụng bảo vệ có ý nghĩa thống kê xuất hiện rõ nét ở các thử nghiệm dùng liều nhỏ hàng ngày từ 400 đến 1.000 IU trong thời gian 12 tháng trở xuống (OR đạt 0,58) [5].
Ngược lại, các thử nghiệm cho dùng liều cao ngắt quãng theo tuần hoặc theo tháng kéo dài từ 2 đến 5 năm lại không ghi nhận hiệu quả bảo vệ rõ rệt [5]. Giả thuyết được các nhà nghiên cứu đưa ra là việc dồn liều cao ngắt quãng có thể gây xáo trộn quá trình chuyển hóa nội sinh hoặc ảnh hưởng bất lợi đến phản ứng miễn dịch của cơ thể trước các tác nhân gây bệnh đường hô hấp [5].
Ưu điểm và hạn chế của từng phương pháp
Uống hàng ngày giúp duy trì nồng độ vitamin D ổn định liên tục trong máu, bắt chước quá trình tổng hợp sinh lý tự nhiên qua da. Phương pháp này giảm thiểu nguy cơ quá tải chuyển hóa tại gan và duy trì sự hỗ trợ miễn dịch tốt hơn [5, 6]. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là người dùng rất dễ quên uống thuốc, dẫn đến bỏ dở liệu trình.
Bổ sung hàng tuần đem lại sự tiện lợi vượt trội, phù hợp cho người bận rộn hoặc người lớn tuổi phải uống quá nhiều loại thuốc cùng lúc [1, 2]. Nhược điểm là nồng độ các chất chuyển hóa có thể dao động mạnh hơn, đồng thời sự phơi nhiễm toàn phần của cơ thể với 25(OH)D có phần kém tối ưu hơn một chút so với việc chia đều mỗi ngày [1].
Hiểu lầm thường gặp về liều dồn
Nhiều người tin rằng cứ uống một liều thật lớn thì nồng độ vitamin D sẽ tăng vọt tương ứng với cấp số nhân của liều dùng. Thực tế nghiên cứu cho thấy mức tăng không diễn ra theo đường thẳng tỷ lệ thuận. Khi so sánh phác đồ dùng liều gián đoạn 300.000 IU mỗi ba tháng với liều 1.000 IU mỗi ngày trong 6 tháng, dù nhóm liều gián đoạn nhận lượng vitamin D gấp 3,3 lần nhưng mức tăng tuyệt đối của 25(OH)D trong máu lại không hề cao gấp 3,3 lần [6].
Một số nghiên cứu cũng cho thấy khi dùng thêm liều tải bolus, mức liều 50.000 IU lại đem lại tỷ lệ đạt đích điều trị tốt hơn mức 100.000 IU (75% so với 44%) [6]. Điều này khẳng định cơ thể có ngưỡng xử lý nhất định và việc dồn liều quá cao chưa chắc đã mang lại lợi ích tương xứng.
Ai nên thận trọng khi lựa chọn phác đồ?
Người mắc bệnh béo phì, bệnh gan hoặc hội chứng kém hấp thu cần được tính toán liều lượng cẩn thận hơn người bình thường [7]. Ở những đối tượng này, liều duy trì hoặc dự phòng kéo dài có thể cần tới 7.000 IU mỗi ngày hoặc 30.000 IU mỗi tuần [7]. Nếu điều trị tình trạng thiếu hụt mà chưa kịp xét nghiệm theo dõi 25(OH)D, phác đồ liều cao ngắt quãng như 30.000 IU hai lần mỗi tuần hoặc 50.000 IU mỗi tuần chỉ nên áp dụng trong thời gian ngắn từ 6 đến 8 tuần [7].
Trẻ nhỏ và người cao tuổi có bệnh nền phức tạp dùng nhiều loại thuốc cũng cần có sự chỉ định của bác sĩ để tránh nguy cơ tương tác thuốc làm biến đổi quá trình hấp thu vitamin D [2, 7].
Gợi ý áp dụng thực tế an toàn
Nếu bạn là người có thói quen sinh hoạt quy củ, việc chọn một viên vitamin D liều tiêu chuẩn uống vào mỗi buổi sáng là giải pháp sinh lý và tối ưu nhất [5, 6]. Hãy uống vitamin D cùng với bữa ăn có chứa chất béo tốt (như dầu ô liu, trứng, các loại hạt) vì đây là loại vitamin tan trong dầu.
Nếu bạn thường xuyên quên uống thuốc hàng ngày, việc chuyển sang phác đồ một lần mỗi tuần là lựa chọn hoàn toàn hợp lý để bảo đảm sự tuân thủ [1, 2]. Bạn có thể chọn cố định một ngày trong tuần (chẳng hạn sáng Chủ nhật) và đặt lịch nhắc nhở.
Việc bổ sung vitamin D hàng ngày hay hàng tuần đều có thể đưa chỉ số trong máu về mức mong muốn nếu dùng đúng tổng liều tương đương. Chọn cách dùng hàng ngày nếu muốn tối ưu hóa sinh học và hỗ trợ miễn dịch, hoặc chọn cách dùng hàng tuần nếu ưu tiên tính tiện lợi và tránh quên liều. Khi nghi ngờ bản thân bị thiếu hụt nghiêm trọng hoặc có bệnh lý chuyển hóa, người dân nên tham khảo ý kiến nhân viên y tế và xét nghiệm máu thay vì tự ý dùng các loại viên uống liều cực cao.




