Bí xanh (bí đao) là món ăn quen thuộc trong mâm cơm của nhiều gia đình Việt Nam nhờ tính thanh mát và dễ chế biến. Nhiều người có thói quen dùng bí xanh liên tục hoặc uống nước ép bí xanh sống để giải nhiệt, giảm cân mà không chú ý đến thể trạng cá nhân. Liệu thực phẩm quen thuộc này có thực sự phù hợp với tất cả mọi người hay không?

Câu trả lời là không phải ai cũng nên ăn nhiều bí xanh. Mặc dù giàu nước và chứa các hoạt chất thực vật có lợi, thực phẩm này có thể gây bất lợi cho những người có bệnh lý huyết áp thấp, tiêu hóa kém, bệnh lý thận mạn tính hoặc thể trạng hư hàn nếu dùng quá mức.

Đặc tính dinh dưỡng và tác động sinh học của bí xanh

Bí xanh thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), là loại rau quả chứa hàm lượng nước rất cao cùng các dưỡng chất như đường đơn, axit malic và axit amin citrulline [1]. Quả bí xanh tích lũy khối lượng sinh học lớn trong chu kỳ sinh trưởng ngắn, mang lại nguồn dinh dưỡng dồi dào cho bữa ăn thường ngày [1].

Các nghiên cứu sinh học ghi nhận bí xanh chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học đa dạng [1]. Tuy nhiên, chính những đặc tính dược lý như khả năng giãn mạch hạ áp hay tác động lên chuyển hóa lipid lại là yếu tố đòi hỏi một số nhóm người có bệnh lý nền phải cẩn trọng [1, 6].

Bằng chứng khoa học về tác động của bí xanh

Nghiên cứu về tác dụng tim mạch năm 2011 đã sử dụng dịch ép bí xanh cô đặc 10 lần tiêm tĩnh mạch trên chuột cống trắng Wistar bình thường đã được gây mê, đồng thời đánh giá trên quai động mạch chủ chuột cô lập và tế bào nội mô động mạch chủ lợn [2]. Kết quả cho thấy dịch ép bí xanh gây hạ huyết áp phụ thuộc liều lượng ở chuột sống [2]. Trên quai động mạch chủ đã co thắt trước bằng noradrenaline, dịch ép gây giãn mạch phụ thuộc nồng độ [2]. Hiệu ứng giãn mạch này bị ức chế mạnh bởi chất ức chế men tổng hợp oxit nitric (l-NAME) hoặc khi bóc tách lớp nội mô [2]. Trên tế bào nội mô lợn nuôi cấy, dịch ép kích thích sản sinh oxit nitric (NO), và quá trình này cũng bị ức chế bởi l-NAME, chứng minh dịch ép bí xanh hạ áp qua cơ chế giãn mạch phụ thuộc nội mô mà chất trung gian chính là NO [2].

Một nghiên cứu khác năm 2013 thực hiện trên chuột nhắt C57BL/6 bị béo phì do chế độ ăn nhiều chất béo [3]. Chiết xuất vỏ bí xanh giúp ngăn tăng cân, hạ cholesterol toàn phần, hạ đường huyết lúc đói và giảm hoạt tính PPARgamma [3]. Ở thử nghiệm điều trị kéo dài hai tuần trên chuột béo phì, chiết xuất vỏ bí xanh làm giảm triglyceride huyết thanh và mô gan, giảm đường huyết lúc đói, đồng thời ức chế tín hiệu HMG-CoA reductase (HMGCR) ở gan chuột [3].

Dù vậy, các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện trên chuột, mô cô lập hoặc tế bào nuôi cấy trong phòng thí nghiệm [1, 6]. Dữ liệu lâm sàng đối chứng quy mô lớn trực tiếp trên người bệnh hiện vẫn còn rất hạn chế.

Nhóm 1: Người có huyết áp thấp hoặc đang dùng thuốc hạ áp

Dịch ép bí xanh đã được chứng minh có tác dụng làm hạ huyết áp trực tiếp thông qua việc kích thích giải phóng nitric oxide (NO) và làm giãn mạch máu trong mô hình động vật [2]. Tác dụng hạ áp này phụ thuộc vào liều lượng đưa vào cơ thể [2].

Đối với người vốn có mức huyết áp thấp, việc tiêu thụ lượng lớn bí xanh hoặc uống nước cốt đậm đặc có thể làm mạch máu giãn ra quá mức. Tình trạng này dễ dẫn tới hiện tượng tụt huyết áp đột ngột, gây hoa mắt, chóng mặt hoặc choáng váng. Người đang dùng thuốc điều trị cao huyết áp cũng cần thận trọng để tránh cộng gộp tác dụng hạ áp ngoài ý muốn.

Nhóm 2: Người có bệnh lý tiêu hóa và hay lạnh bụng

Bí xanh tích lũy lượng lớn nước cùng các axit hữu cơ như axit malic và các loại đường đơn [1]. Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, bí xanh có tính hàn, thanh nhiệt mạnh mẽ.

Với những người có hệ tiêu hóa nhạy cảm, người bị viêm đại tràng mạn tính, tỳ vị hư hàn hoặc thường xuyên bị tiêu chảy, lượng nước dồi dào kết hợp cùng tính hàn của bí xanh có thể làm tăng nhu động ruột quá mức. Tiêu thụ nhiều bí xanh, đặc biệt là ăn sống hoặc uống nước ép nguội, dễ gây cảm giác đầy trướng bụng, khó tiêu và làm trầm trọng thêm các đợt tiêu chảy.

Nhóm 3: Bệnh nhân suy thận cần kiểm soát lượng nước

Trái bí xanh tích lũy sinh khối lớn và chứa hàm lượng nước rất cao trong phần thịt quả [1]. Đây là ưu điểm giúp giải khát cho người bình thường nhưng lại là gánh nặng lớn đối với bệnh nhân mắc bệnh thận nặng.

Người bị suy thận giai đoạn muộn, bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo thường phải tuân thủ chế độ hạn chế nghiêm ngặt lượng nước đưa vào cơ thể mỗi ngày để tránh quá tải dịch tuần hoàn, phù nề và suy tim xung huyết. Ăn quá nhiều canh bí hoặc món luộc từ bí xanh sẽ khiến cơ thể tích tụ lượng dịch lớn mà thận suy yếu không thể đào thải kịp thời.

Nhóm 4: Người có thể trạng hư hàn, mệt mỏi kéo dài

Những người có thể trạng suy nhược, sợ lạnh, tay chân thường xuyên lạnh ngắt và thể lực yếu được xếp vào nhóm thể trạng hàn. Bản chất thanh mát giải nhiệt của bí xanh không phù hợp để sử dụng với tần suất dày đặc ở nhóm đối tượng này.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực vật học ghi nhận bí xanh là loại cây trồng có thể tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật nếu không tuân thủ thời gian cách ly [4]. Nghiên cứu năm 2018 cho thấy thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ chứa copper nonylphenolsulfonate và hexaconazole có thời gian bán phân hủy trong bí xanh từ 4,6 đến 5,8 ngày, cần tối thiểu 3 ngày cách ly để dư lượng giảm xuống dưới ngưỡng an toàn [4]. Người có sức khỏe yếu ăn phải thực phẩm không đảm bảo vệ sinh sẽ dễ gặp phản ứng bất lợi hơn.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng bí xanh

Nhiều người lầm tưởng rằng bí xanh là rau củ lành tính hoàn toàn nên uống nước ép sống thay nước lọc mỗi ngày để giảm cân cấp tốc. Nước ép sống chứa nồng độ hoạt chất đậm đặc, có thể gây hạ áp và kích ứng dạ dày nghiêm trọng hơn nhiều so với bí đã nấu chín [2].

Một hiểu lầm khác là cho rằng chiết xuất từ vỏ bí xanh đã được chứng minh có thể thay thế thuốc hạ mỡ máu hay thuốc tiểu đường ở người. Thực tế, nghiên cứu ức chế PPARgamma và men HMGCR mới chỉ được ghi nhận trên chuột C57BL/6 trong thời gian hai tuần [3]. Người bệnh không được tự ý bỏ thuốc điều trị để chuyển sang dùng bí xanh.

Ai nên thận trọng và cách sử dụng an toàn

Những người thuộc 4 nhóm kể trên, phụ nữ mang thai có thể trạng yếu hoặc người đang dùng các loại thuốc điều hòa chuyển hóa cần thận trọng và tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng trước khi bổ sung nhiều bí xanh vào bữa ăn.

Đối với người khỏe mạnh thông thường, nên ăn bí xanh với lượng vừa phải trong chế độ dinh dưỡng đa dạng. Khi chế biến, nên nấu chín kỹ, có thể kết hợp thêm vài lát gừng tươi để làm ấm tỳ vị và trung hòa tính hàn của bí. Nên chọn mua bí xanh có nguồn gốc rõ ràng nhằm hạn chế nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật [4].

Bí xanh là thực phẩm giàu dinh dưỡng và đem lại nhiều giá trị sức khỏe nếu sử dụng đúng cách. Tuy nhiên, việc hiểu rõ thể trạng bản thân và kiểm soát lượng ăn hợp lý là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe tim mạch và tiêu hóa lâu dài.