Nhiều người tìm đến chế độ ăn cắt giảm tinh bột (low-carb) với mong muốn giảm cân nhanh và kiểm soát mỡ nội tạng. Trong số các vấn đề chuyển hóa thường gặp, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) nhận được sự quan tâm lớn vì căn bệnh này thường diễn tiến âm thầm, không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu [1].

Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học hiện tại chỉ ra rằng việc vội vàng tin tưởng chế độ ăn giảm tinh bột có thể cải thiện dứt điểm gan nhiễm mỡ là chưa có cơ sở thực tế vững chắc. Đánh giá chính xác tổn thương gan đòi hỏi các công cụ hình ảnh chuyên sâu như chụp cộng hưởng từ (MRI) và theo dõi men gan alanine aminotransferase (ALT), thay vì chỉ dựa vào những suy đoán ăn kiêng chưa được kiểm chứng [3, 6].

Bệnh gan nhiễm mỡ không cồn và mối nguy âm thầm

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là tình trạng tích tụ chất béo dư thừa trong các tế bào gan ở những người không lạm dụng rượu bia [1]. Tình trạng này có liên quan chặt chẽ với hội chứng chuyển hóa, bệnh đái tháo đường khởi phát, xơ vữa động mạch cảnh và rối loạn chức năng nội mô [1].

Ở người trưởng thành, có khoảng 25% người mắc bệnh gan nhiễm mỡ không cồn tiến triển thành viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu (NASH) đi kèm các mức độ xơ hóa gan khác nhau [2]. Đáng chú ý, bệnh lý này không chỉ xuất hiện ở người lớn tuổi mà còn ảnh hưởng đến trẻ nhỏ, với tỷ lệ ghi nhận lên tới một phần ba trẻ em trên toàn cầu [2].

Khi lượng mỡ trong gan gia tăng, các tác động tiêu cực đến sức khỏe toàn thân cũng xuất hiện. Các phân tích cho thấy sự hiện diện của gan nhiễm mỡ liên quan mật thiết đến việc suy giảm chỉ số dự trữ tưới máu cơ tim (MPR), phản ánh tình trạng rối loạn vi tuần hoàn vành [3].

Vai trò của cộng hưởng từ (MRI) trong đo lường mỡ gan

Để xác định chính xác mức độ thoái hóa mỡ gan, các phương pháp hình ảnh không xâm lấn đang dần thay thế việc sinh thiết truyền thống [4]. Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ định lượng phân số mỡ theo mật độ proton (MRI-PDFF) qua phương pháp dịch chuyển hóa học đa điểm (Dixon) cho thấy độ tương quan rất cao với kết quả mô bệnh học và đo phổ cộng hưởng từ (MRS) [4].

So với kỹ thuật siêu âm thông thường, chụp cộng hưởng từ vượt trội hơn trong việc phát hiện và định lượng những mức độ thoái hóa mỡ nhẹ ở gan [5]. Một nghiên cứu so sánh trên 38 bệnh nhân sinh thiết gan cho thấy MRI đạt mức tương quan cao hơn với hàm lượng mỡ vi thể (r = 0,77) so với siêu âm (r = 0,41) [5].

Phương pháp chụp MRI toàn bộ gan trong một lần nín thở giúp loại trừ sai số lấy mẫu cục bộ, cung cấp kết quả định lượng mỡ, sắt và xơ hóa một cách đồng thời và chuẩn xác [4]. Trong nghiên cứu ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không cồn, khi siêu âm đều thể hiện tình trạng nhiễm mỡ nặng ở tất cả trường hợp, kỹ thuật MRI lại bóc tách được biên độ dao động lượng mỡ thực tế rất rộng, từ 19% đến 40% [5].

Men gan ALT có phản ánh đúng mức độ mỡ gan?

Nhiều người thường dựa vào xét nghiệm men gan alanine aminotransferase (ALT) để tự đánh giá mức độ tiến triển của tình trạng gan nhiễm mỡ. Dù vậy, dữ liệu nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số ALT trong máu không phản ánh trung thực mức độ thay đổi của phân số mỡ hay độ cứng của gan trên hình ảnh cộng hưởng từ [2].

Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu năm 2019 theo dõi 65 bệnh nhân mắc gan nhiễm mỡ không cồn (tuổi trung bình 14 ± 3, 80% không phải gốc Tây Ban Nha) trong thời gian theo dõi 27 ± 14 tháng bằng các lần chụp MRI lặp lại [2]. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ ALT dưới 50 U/L tăng lên theo thời gian [2].

Mặc dù vậy, phân số mỡ đo qua MRI (FF) và độ cứng của gan chỉ giảm lần lượt ở 29% và 20% bệnh nhân, đồng thời lại tăng lên ở 25% và 22% số người tham gia [2]. Nghiên cứu chỉ tìm thấy mối tương quan dương rất yếu giữa sự thay đổi phân số mỡ và sự thay đổi ALT (r = 0,41; P = 0,053), trong khi hoàn toàn không có mối tương quan nào giữa thay đổi độ cứng của mô gan và thay đổi nồng độ ALT (r = 0,02; P = 0,910) [2].

Điều này chứng minh chỉ số men gan ALT không đủ để kết luận gan đang hồi phục hay xấu đi. Việc chụp cộng hưởng từ là công cụ bổ sung cần thiết để theo dõi tiến triển bệnh một cách chính xác [2].

Tác động của gan nhiễm mỡ tới tim mạch và não bộ

Ảnh hưởng của mỡ gan không chỉ giới hạn tại nội tạng này mà còn lan rộng sang nhiều cơ quan sống còn. Trong nghiên cứu cắt ngang thuộc chương trình Framingham thực hiện trên 766 cá nhân (410 phụ nữ, 356 nam giới, tuổi trung bình 67 ± 9) từ năm 2002 đến năm 2011, tỷ lệ mắc gan nhiễm mỡ không do rượu chiếm 17,9% [1]. Kết quả phân tích hồi quy sau khi hiệu chỉnh nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch đã chỉ ra mối liên quan rõ rệt giữa gan nhiễm mỡ và sự suy giảm thể tích toàn bộ não bộ [1].

Đối với hệ thống tim mạch, một nghiên cứu trên 65 đối tượng không triệu chứng đã ghi nhận tình trạng gan thoái hóa mỡ ở 18 người (chiếm 28%) [3]. Khi phân tích tưới máu cơ tim qua MRI, những người có gan nhiễm mỡ sở hữu chỉ số dự trữ tưới máu cơ tim (MPR) thấp hơn đáng kể so với nhóm không mắc bệnh (2,3 ± 0,74 so với 3,3 ± 1,4; P < 0,001) [3].

Nhóm người có gan nhiễm mỡ cũng ghi nhận tỷ lệ MPR dưới 2,5 cao hơn rõ rệt (78% so với 38%; P < 0,005) cùng nồng độ triglyceride huyết thanh cao hơn hẳn (206 ± 61 mg/dl so với 92 ± 37 mg/dl; P < 0,001) [3]. Phân tích đa biến khẳng định gan nhiễm mỡ là yếu tố dự báo độc lập cho tình trạng suy giảm dự trữ tưới máu cơ tim với tỷ số chênh OR lên tới 8,2 (P < 0,01) [3].

Ngay ở độ tuổi học đường, nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 3.170 trẻ em 10 tuổi cho thấy tỷ lệ gan nhiễm mỡ (được xác định khi phân số mỡ đo qua MRI đạt từ 5,0% trở lên) là 1,0% ở nhóm cân nặng bình thường, 9,1% ở nhóm thừa cân và 25,0% ở nhóm béo phì [6]. Trẻ em có lượng mỡ gan từ 5,0% trở lên có nguy cơ mắc cụm biến cố chuyển hóa tim mạch cao gấp 24,43 lần (khoảng tin cậy 95%: 12,25 - 48,60) so với nhóm có mỡ gan dưới 2,0% [6].

Bằng chứng khoa học và những hiểu lầm thường gặp

Một hiểu lầm phổ biến hiện nay là cho rằng cứ áp dụng chế độ ăn low-carb thì mỡ gan sẽ tự động biến mất và men gan ALT sẽ về ngưỡng an toàn. Dữ liệu nghiên cứu thực tế không ghi nhận bằng chứng nào cho thấy việc áp dụng đơn lẻ chế độ ăn giảm carbohydrate tạo ra sự đảo ngược thoái hóa mỡ gan được chứng minh trên MRI.

Ngoài ra, việc chỉ dựa vào xét nghiệm máu thấy chỉ số men ALT ổn định rồi chủ quan cho rằng gan đã khỏe mạnh là một sai lầm nguy hại [2]. Trong nghiên cứu đoàn hệ kéo dài 27 tháng, dù tỷ lệ người có men ALT dưới 50 U/L tăng lên, tổn thương mô học và độ cứng của gan trên MRI vẫn tiến triển xấu ở hơn 20% bệnh nhân [2].

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng ghi nhận sự gia tăng nồng độ insulin trong huyết thanh là biến số có khả năng dự báo sự gia tăng phân số mỡ gan (P = 0,061) sau khi đã hiệu chỉnh theo nồng độ HDL cholesterol [2]. Ngoài ra, có mối tương quan nghịch vừa phải giữa sự thay đổi phân số mỡ gan và sự thay đổi của nồng độ HDL cholesterol máu (r = -0,58; P = 0,004) [2].

Ai nên thận trọng khi đánh giá mỡ gan?

Những người được chẩn đoán gan nhiễm mỡ kèm theo các rối loạn chuyển hóa như tăng triglyceride máu hoặc kháng insulin cần hết sức thận trọng [2, 3]. Việc tự ý áp dụng các chế độ ăn kiêng hà khắc như cắt bỏ hoàn toàn nhóm tinh bột mà thiếu sự giám sát y tế có thể làm chậm trễ quá trình điều trị chuyên khoa.

Các đối tượng có bệnh lý tim mạch, huyết áp cao hoặc nguy cơ xơ vữa động mạch cũng không nên chủ quan dựa vào các kết quả siêu âm đơn thuần [1, 2, 8]. Siêu âm không thể lượng hóa chính xác sự thay đổi của lượng mỡ ở các mức độ thoái hóa nhẹ, dễ gây ra tâm lý an tâm giả tạo [5].

Bệnh nhân mắc các bệnh nền mạn tính, đái tháo đường loại 2 hoặc đang sử dụng thuốc chuyển hóa bắt buộc phải tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa - gan mật trước khi thực hiện bất kỳ thay đổi lớn nào về khẩu phần dinh dưỡng thường ngày.

Khuyến nghị áp dụng thực tế và theo dõi định kỳ

Người bệnh không nên tự ý áp dụng các trào lưu ăn kiêng không có hướng dẫn khoa học, thay vào đó cần duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng và kiểm soát tốt năng lượng tổng thể. Cần kết hợp ăn uống điều độ với các hoạt động thể chất đều đặn nhằm cải thiện tình trạng kháng insulin và nồng độ mỡ máu [1, 3].

Để đánh giá chính xác sức khỏe lá gan, người bệnh nên chủ động tham khảo ý kiến bác sĩ về việc thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh tiên tiến như MRI-PDFF khi cần định lượng chi tiết mô mỡ và xơ hóa gan [4]. Việc kết hợp nhiều phương pháp kiểm tra sẽ giúp bác sĩ có cái nhìn toàn diện hơn thay vì chỉ đơn độc phụ thuộc vào men gan [2].

Quá trình kiểm soát bệnh gan nhiễm mỡ không cồn đòi hỏi sự kiên trì và phối hợp đa yếu tố. Việc chủ động thăm khám định kỳ, phối hợp kiểm tra chỉ số sinh hóa máu với chẩn đoán hình ảnh hiện đại là chìa khóa then chốt để bảo vệ sức khỏe lá gan một cách an toàn và bền vững.