Bối cảnh dùng truyền thống

Bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz) là cây thảo sống lâu năm, vị thuốc lấy từ rễ khô. Tên gọi khác gồm sinh bạch truật, sơn liên, sao bạch truật. Rễ bạch truật có màu trắng ngà, vị ngọt đắng, hơi cay, tính ôn. Hai dạng chính: vân đầu truật (củ béo to, có dầu) và cẩu đầu truật (củ gầy, trắng, tính ổn định kém hơn). Truyền thống, A. macrocephala dùng để bổ spleen, hưởng qì, khô ẩm, thông tiểu, phòng sảy thai [1]. Nghiên cứu hệ thống thực vật cho thấy Atractylodes gắn liền chặt chẽ với Carlina và Atractylis trong cùng clade [2].

Phân biệt với bằng chứng hiện đại

Bằng chứng hiện đại dựa trên phân tích thực hóa và cơ chế sinh học. Nghiên cứu trên mô hình chuột bẹn và viêm khớp gout cho thấy chiết xuất có hoạt chất chống tăng mỡ ho gà và chống viêm, nhưng cơ chế cụ thể chưa rõ [2]. Hơn 79 hợp chất hoạt chất đã được chỉ định danh, trong đó polysaccharides là thành phần quan trọng với nhiều hoạt chất dược [1]. Nghiên cứu ITS nrDNA giúp nhận dạng chính xác 5 loài Atractylodes khó phân biệt bằng hình thái học [3].

Ứng dụng lâm sàng hiện nay

Thuốc có tích hợp bạch truật được dùng rộng rãi ở Trung Quốc như liệu pháp phụ trợ trước hoá học trị đặc trị un cơ quái tiêu hóa giai đoạn tiên tiến [4]. Tuy nhiên, kết quả hiệu quả chưa thuyết phục. Các nghiên cứu hệ thống thống kê đang được thực hiện để đánh giá hiệu năng và an toàn [4]. Người dùng nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng cho bệnh lý cụ thể.