Nhiều người Việt có thói quen hái hoặc mua cam thảo nam phơi khô để đun nước uống hàng ngày với hy vọng thanh nhiệt, giải độc và hạ men gan. Lời đồn về một vị thuốc nam rẻ tiền, mọc hoang khắp bờ bụi có thể "cứu nguy" cho lá gan tổn thương khiến không ít người bệnh bỏ bê phác đồ điều trị của bác sĩ để tìm về thảo dược.

Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học thực tế cho thấy tiềm năng chống oxy hóa và bảo vệ mô gan của cam thảo nam hiện mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu trên chuột trong phòng thí nghiệm. Thảo dược này tuyệt đối chưa đủ bằng chứng lâm sàng để được coi là thuốc chữa bệnh gan trên cơ thể người.

Cam thảo nam chứa những hoạt chất gì?

Cam thảo nam, có tên khoa học là Scoparia dulcis, là loài cỏ mọc thẳng hàng năm phân bố khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Ấn Độ, châu Mỹ, Brazil, Tây Ấn và Myanmar [1]. Toàn bộ cây từ lâu đã được y học dân gian sử dụng cho nhiều chứng bệnh như tiêu chảy, đau dạ dày, sỏi thận, bệnh thận và sốt [1].

Phân tích hóa thực vật cho thấy cam thảo nam là nguồn cung cấp dồi dào các hoạt chất sinh học tự nhiên. Cây chứa nhiều hợp chất thuộc nhóm flavone, terpene và steroid [1]. Trong đó, chiết xuất methanol của cam thảo nam chứa khoảng 4,9% polyphenol tổng số có thể chiết xuất được, còn chiết xuất nước chứa khoảng 3,2% polyphenol tổng số [1].

Bên cạnh các polyphenol tổng quát, nghiên cứu ghi nhận sự hiện diện của luteolin – một hoạt chất flavonoid quan trọng được phân lập trực tiếp từ lá cam thảo nam [2]. Những nhóm hoạt chất này đóng vai trò nền tảng tạo nên các đặc tính sinh học được đưa vào thử nghiệm y khoa [1].

Cơ chế chống stress oxy hóa và bảo vệ mô

Khi cơ thể chịu sự tấn công của các gốc tự do hay tình trạng rối loạn chuyển hóa mạn tính, các tế bào mô sẽ bị stress oxy hóa nghiêm trọng. Hiện tượng peroxy hóa lipid màng tế bào bùng phát tạo ra các chất độc hại như hydroperoxide và các chất phản ứng với axit thiobarbituric (TBARS), gây phá vỡ cấu trúc màng tế bào [3, 7].

Chiết xuất cam thảo nam thể hiện hoạt tính chống oxy hóa trực tiếp thông qua việc dập tắt gốc tự do trong các thử nghiệm in vitro như xét nghiệm 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH) và đo khả năng khử ion sắt [1]. Nhờ vậy, dịch chiết giúp ngăn chặn các chuỗi phản ứng phá hủy màng sinh học do gốc oxy hóa tự do kích hoạt [3, 6].

Ở cấp độ tế bào mô, chiết xuất cam thảo nam kích hoạt và phục hồi hệ thống enzyme chống oxy hóa nội sinh. Cây giúp tăng cường hoạt tính của superoxide dismutase (SOD), catalase (CAT), glutathione peroxidase (GPx), glutathione-S-transferase (GST) cùng lượng glutathione khử (GSH) [3, 5, 7]. Hệ thống enzyme này chuyển hóa và trung hòa các gốc độc hại thành những chất vô hại trước khi chúng kịp phá hủy tế bào [3, 5].

Ngoài ra, hoạt chất flavonoid luteolin phân lập từ lá cam thảo nam còn tham gia can thiệp vào quá trình chuyển hóa tế bào gan [2]. Luteolin được ghi nhận có khả năng cải thiện độ nhạy insulin tại gan bằng cách ức chế biểu hiện của protein phiên mã liên kết yếu tố điều hòa sterol 1 (SREBP1) - yếu tố điều hòa sự biểu hiện của chất nền thụ thể insulin 2 (Irs2) [2].

Các bằng chứng thực nghiệm trên mô hình động vật

Nhiều công trình khoa học đã thử nghiệm dịch chiết cam thảo nam trên chuột để kiểm tra tác động sinh học đối với các cơ quan nội tạng. Hầu hết các thử nghiệm đều áp dụng trên mô hình chuột cống đực Albino Wistar bị gây đái tháo đường thực nghiệm bằng cách tiêm streptozotocin [3, 4, 7].

Một nghiên cứu công bố năm 2004 trên chuột Wistar đực bị gây đái tháo đường bằng streptozotocin đánh giá tác động của dịch chiết nước cam thảo nam dùng đường uống với liều 200 mg/kg thể trọng trong 6 tuần [3]. Nhóm nghiên cứu ghi nhận dịch chiết giúp tăng đáng kể insulin huyết tương, phục hồi hoạt tính enzyme chống oxy hóa SOD, CAT, GPx, GST và GSH, đồng thời làm giảm rõ rệt sự hình thành TBARS và hydroperoxide, bảo vệ chống tổn thương màng do peroxy hóa lipid [3].

Cũng trong năm 2004, một thử nghiệm khác trên chuột đực albino Wistar bị đái tháo đường do tiêm liều đơn streptozotocin (45 mg/kg thể trọng) được tiến hành [4]. Khi cho chuột uống dịch chiết nước cam thảo nam liều 200 mg/kg thể trọng mỗi ngày trong suốt 6 tuần, nồng độ insulin và các chất chống oxy hóa huyết tương (như vitamin C, vitamin E, glutathione khử, ceruloplasmin) tăng lên đáng kể, đồng thời tình trạng peroxy hóa lipid giảm rõ rệt [4]. Hiệu quả tại mức liều 200 mg/kg này thậm chí còn vượt qua cả thuốc đối chứng glibenclamide [4].

Một nghiên cứu công bố năm 2005 kéo dài 3 tuần đã khảo sát tác dụng của dịch chiết nước cam thảo nam (liều 200 mg/kg thể trọng) đối với các mô gan và thận của chuột đái tháo đường [5]. Kết quả cho thấy chiết xuất làm giảm sự tạo thành gốc tự do tại mô gan và mô thận, giảm chỉ số TBARS và hydroperoxide, đồng thời làm tăng nồng độ các enzyme SOD, CAT, GPx, GST và GSH [5].

Nghiên cứu công bố năm 2004 thực hiện trên các nhóm chuột đái tháo đường (mỗi nhóm gồm 6 con chuột) đối chứng với chuột khỏe mạnh (6 con) kéo dài 6 tuần thông qua đường bơm dạ dày với liều 200 mg/kg/ngày [6]. Dịch chiết cam thảo nam đã làm giảm có ý nghĩa thống kê lượng đường huyết, sorbitol dehydrogenase, hemoglobin glycat hóa, TBARS và hydroperoxide ở gan chuột bệnh, đồng thời làm tăng hoạt tính insulin, GPx, GST và GSH tại mô gan, tương đương hoặc tốt hơn đối chứng thuốc chuẩn glibenclamide liều 600 microgam/kg/ngày [6].

Nghiên cứu tổng hợp năm 2019 cũng dẫn lại việc dùng dịch chiết nước liều 200 mg trên chuột đái tháo đường trong 15 ngày giúp hạ đường huyết rõ rệt và tăng nồng độ insulin [2]. Dịch chiết làm giảm enzyme sorbitol dehydrogenase và làm tăng enzyme chống oxy hóa ở mô [2]. Thêm vào đó, trên dòng tế bào cơ vân chuột L6 (CRL-1458), phân đoạn sắc ký lớp mỏng thứ bảy (TLC fraction seven) của dịch chiết nước cam thảo nam thể hiện khả năng hấp thu glucose tương đương insulin [2]. Flavonoid luteolin tinh sạch từ cây còn ức chế enzyme alpha-glucosidase mạnh hơn thuốc acarbose chuẩn [2].

Giới hạn lớn của bằng chứng khoa học

Mặc dù các dữ liệu thực nghiệm đưa ra nhiều chỉ số sinh hóa ấn tượng, việc áp dụng nguyên xi các kết quả này sang người bệnh là một sai lầm nguy hiểm. Rào cản lớn nhất hiện nay là toàn bộ bằng chứng nêu trên đều thực hiện trên chuột thực nghiệm bị gây bệnh nhân tạo hoặc thử nghiệm in vitro trong ống nghiệm [3, 4, 6, 7, 8].

Mô hình chuyển hóa của chuột cống hoàn toàn không phản ánh đầy đủ cơ chế bệnh học phức tạp của gan người. Độc tính gan ở người thường phát sinh do viêm gan virus (B, C), biến chứng do rượu kéo dài hàng chục năm, xơ gan, hoặc gan nhiễm mỡ liên quan đến hội chứng chuyển hóa toàn thân. Không có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) nào trên người chứng minh cam thảo nam có thể làm hạ men gan, tiêu viêm hay đảo ngược tình trạng tổn thương gan.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu dùng dịch chiết chuẩn hóa với nồng độ hoạt chất cố định, được kiểm soát chặt chẽ bằng dung môi hoặc chiết xuất nước công nghiệp [5, 6, 7]. Quá trình nấu nước thảo dược thủ công tại gia đình không thể tạo ra nồng độ hoạt chất đồng nhất, không loại trừ được tạp chất và thiếu sự kiểm chứng về độ tinh khiết sinh học.

Hiểu lầm phổ biến khi dùng cam thảo nam chữa bệnh gan

Hiểu lầm tai hại nhất là việc đánh đồng tác dụng "giảm peroxy hóa màng tế bào gan trên chuột đái tháo đường" với công năng "hạ men gan, trị viêm gan cấp và mạn tính ở người". Nhiều bệnh nhân bị men gan cao (tăng chỉ số AST, ALT) do viêm gan virus hoặc bia rượu đã tự ý dừng thuốc kháng virus, thuốc đặc trị để chuyển sang uống nước sắc cam thảo nam. Hậu quả là virus bùng phát, tế bào gan hoại tử ồ ạt dẫn đến suy gan cấp tính.

Một quan niệm sai lầm khác là thảo dược tự nhiên thì hoàn toàn lành tính, uống càng nhiều càng tốt. Bất kỳ loài cây chứa các hoạt chất flavone, terpene hay steroid nào khi đưa vào cơ thể với lượng lớn đều đòi hỏi gan và thận phải làm việc cật lực để chuyển hóa và đào thải [1]. Lạm dụng nước sắc thảo dược không rõ liều lượng có thể gây tích tụ độc chất, tạo thêm gánh nặng cho một lá gan vốn đang bị tổn thương.

Ai nên thận trọng khi tiếp cận thảo dược này?

Người mắc các bệnh gan tiến triển như viêm gan B mạn tính, viêm gan C, xơ gan mất bù hay ung thư gan không được tự ý dùng cam thảo nam thay thế thuốc chỉ định. Việc chậm trễ điều trị y khoa chuẩn sẽ dẫn đến biến chứng xuất huyết tiêu hóa, hôn mê gan đe dọa tính mạng.

Người có bệnh thận mạn tính hoặc suy giảm chức năng bài tiết cần hết sức cẩn trọng. Cây cam thảo nam có tác động sinh học lên hệ thống chuyển hóa và mô thận [5, 6], nếu sử dụng không có kiểm soát có thể gây ứ dịch, rối loạn điện giải.

Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ không nên sử dụng nước sắc cam thảo nam do hoàn toàn thiếu dữ liệu an toàn độc tính lâm sàng trên các đối tượng nhạy cảm này. Bệnh nhân đang dùng thuốc điều trị đái tháo đường nếu dùng kèm cam thảo nam có thể gặp tương tác làm tụt đường huyết quá mức do dịch chiết cây có tác dụng kích thích bài tiết insulin [4, 7, 8].

Áp dụng thực tế an toàn và đúng mực

Nếu muốn sử dụng cam thảo nam theo kinh nghiệm dân gian như một thức uống giải khát mát nhẹ trong ngày hè, người tiêu dùng chỉ nên dùng như trà thảo mộc thoảng qua, tuyệt đối không coi là phương thuốc điều trị bệnh lý.

Liều lượng áp dụng nên ở mức vừa phải, dùng ngắt quãng (chỉ uống vài ngày rồi dừng, không uống thay thế hoàn toàn nước lọc hàng ngày). Nên chọn nguồn dược liệu sạch, phơi sấy đúng kỹ thuật, tránh nấm mốc hoặc nhiễm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Khi nghi ngờ mắc bệnh gan hoặc đi khám phát hiện men gan tăng cao, người bệnh bắt buộc phải thăm khám chuyên khoa tiêu hóa - gan mật để xác định đúng nguyên nhân gốc rễ (do virus, do rượu hay do thuốc). Việc thiết lập chế độ ăn giảm dầu mỡ, hạn chế rượu bia, tập thể dục đều đặn và dùng thuốc đúng chỉ định của bác sĩ mới là giải pháp khoa học duy nhất giúp bảo vệ lá gan vững chắc.

Bằng chứng bảo vệ mô gan của cam thảo nam hiện mới chỉ dừng lại ở các chỉ số sinh hóa trên chuột thực nghiệm. Người dân cần nhìn nhận thảo dược này đúng với bản chất khoa học hiện tại, không thổi phồng thành "thần dược bổ gan" để tránh những hệ lụy khôn lường cho sức khỏe.