Nhiều người lầm tưởng bia tươi nhẹ độ cồn nên ít gây hại tim mạch hơn các loại rượu mạnh đắt tiền. Sự thật là áp lực lên thành mạch không phụ thuộc vào loại đồ uống đắng hay ngọt, nhẹ hay nặng vị, mà do chính tổng lượng cồn nguyên chất (ethanol) nạp vào cơ thể quyết định.

Cơ thể chuyển hóa bia tươi hay rượu mạnh theo cùng một con đường sinh hóa. Khi tổng lượng cồn vượt ngưỡng, hệ thần kinh giao cảm bị kích thích mạnh, dẫn đến co thắt mạch máu và đẩy huyết áp tăng cao liên tục.

Hiểu lầm phổ biến: Bia nhẹ hơn rượu mạnh?

Trong các buổi liên hoan, bia tươi thường được xem là thức uống giải khát vô hại vì nồng độ cồn chỉ dao động quanh mức 4-5%. Ngược lại, rượu mạnh với nồng độ cồn từ 35-40% trở lên thường bị gắn mác nguy hiểm tức thì cho sức khỏe tuần hoàn.

Tuy nhiên, người uống bia tươi thường tiêu thụ thể tích rất lớn, tính bằng lít hoặc hàng vại trong mỗi cuộc vui kéo dài nhiều giờ. Một nghiên cứu năm 2013 tại Đông Âu đã quy ước hàm lượng cồn rất rõ ràng: 100 ml bia chứa khoảng 4 g ethanol, trong khi 100 ml rượu mạnh chứa khoảng 36 g ethanol [1]. Như vậy, uống gần 1 lít bia tươi (khoảng 900 ml) sẽ đưa vào cơ thể lượng cồn xấp xỉ 100 ml rượu mạnh.

Chính dung tích nạp vào đã bù trừ cho độ cồn thấp, khiến người thích uống bia tươi nạp lượng ethanol không hề thua kém, thậm chí vượt xa người chỉ nhấp vài ly rượu nhỏ. Thước đo thực sự của nguy cơ tim mạch là lượng cồn nguyên chất đi vào máu, không phải hương vị hay tên gọi của đồ uống.

Cơ chế ethanol làm tăng huyết áp

Khi đi vào hệ tuần hoàn, ethanol tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương và các cơ chế thể dịch điều hòa tim mạch [2]. Sau khi uống một lượng lớn đồ uống có cồn, cơ thể thường trải qua đáp ứng hai pha đối với chỉ số huyết áp [2].

Ở mức tiêu thụ duy trì trên 30 g ethanol mỗi ngày, cồn làm tăng nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp theo tỷ lệ phụ thuộc trực tiếp vào liều lượng nạp vào [2]. Cơ chế này diễn ra thông qua nhiều con đường thần kinh - thể dịch phức tạp, bao gồm việc kích hoạt hệ thần kinh giao cảm làm co mạch ngoại vi và kích thích tim đập nhanh hơn [2].

Không chỉ dừng lại ở sự dao động huyết áp nhất thời, lượng cồn dư thừa tích tụ lâu ngày còn có thể gây tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp, cụ thể là tổn hại lên mô tim và thận [2]. Vì vậy, việc hấp thụ cồn đều đặn vượt ngưỡng sẽ phá vỡ khả năng tự điều chỉnh trương lực mạch máu của cơ thể.

Dữ liệu từ các nghiên cứu thực tế

Tác động của cồn lên huyết áp đã được ghi nhận qua nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học và can thiệp lâm sàng chặt chẽ trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau.

Một nghiên cứu công bố năm 1987 trên 2.434 nam giới và 1.608 nữ giới là công chức tại London (Anh) đã theo dõi thói quen dùng bia, rượu vang và rượu mạnh [3]. Kết quả cho thấy nhóm nam giới tiêu thụ trung bình 62 g cồn/tuần từ bia, 28 g cồn/tuần từ rượu vang và 18 g cồn/tuần từ rượu mạnh (tổng cộng 11,8 ly/tuần) có huyết áp trung bình là 134/80 mmHg [3]. Ở nhóm nữ giới, mức tiêu thụ là 7 g cồn/tuần từ bia, 25 g cồn/tuần từ rượu vang và 11 g cồn/tuần từ rượu mạnh (tổng cộng 4,4 ly/tuần) với huyết áp trung bình 133/79 mmHg [3].

Đáng chú ý, có 25% nam giới và 24% nữ giới trong nghiên cứu này bị tăng huyết áp tâm trương (huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên) [3]. Phân tích cho thấy huyết áp không tăng rõ rệt cho đến khi tổng lượng tiêu thụ vượt quá 50 ly/tuần [3]. Trong nhóm uống trên 50 ly/tuần, có 12-14% người bị tăng huyết áp liên quan trực tiếp đến cồn; và với những người vừa uống ở mức này vừa có bệnh, cồn là nguyên nhân gây bệnh ở 36% trường hợp [3].

Tại Nhật Bản, một nghiên cứu theo dõi đoàn hệ trong 8 năm công bố năm 2021 trên 7.511 nam công nhân chưa từng mắc bệnh trước đó đã khẳng định mối liên hệ phụ thuộc liều giữa cồn và nguy cơ tăng huyết áp [4]. Tiêu chí tăng huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên, huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên hoặc phải bắt đầu dùng thuốc hạ áp [4]. So với người không uống rượu và không hút thuốc, những người tiêu thụ 154 g ethanol mỗi tuần nhưng không hút thuốc có tỷ số chênh mắc tăng huyết áp đã hiệu chỉnh là 1,51 [4].

Bằng chứng từ can thiệp giảm cồn

Mối liên hệ giữa ethanol và huyết áp càng trở nên rõ ràng hơn khi quan sát sự thay đổi chỉ số huyết áp lúc người bệnh chủ động cắt giảm lượng cồn dung nạp.

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, thiết kế bắt chéo năm 1987 trên 44 nam giới bị tăng huyết áp vô căn đang điều trị bằng thuốc đã chứng minh điều này [5]. Các đối tượng duy trì phác đồ thuốc cố định và trải qua 6 tuần uống bình thường xen kẽ với 6 tuần chỉ uống bia nhẹ độ cồn [5]. Lượng cồn nạp vào đã giảm mạnh từ mức trung bình 452 ml ethanol/tuần xuống còn 64 ml ethanol/tuần [5]. Kết quả ghi nhận huyết áp tâm thu và tâm trương ở tư thế nằm trong 2 tuần cuối của giai đoạn giảm cồn thấp hơn rõ rệt so với giai đoạn uống cồn thông thường, với mức giảm lần lượt là 5,0 mmHg và 3,0 mmHg [5].

Thử nghiệm đối chứng bắt chéo tương tự công bố năm 1986 cũng trên 44 nam giới tăng huyết áp đang điều trị thuốc cho kết quả tương đồng [6]. Khi giảm lượng cồn từ 452 ml ethanol/tuần xuống 64 ml ethanol/tuần bằng cách chuyển sang bia nhẹ, huyết áp tâm thu và tâm trương giảm lần lượt 5,0 mmHg và 3,0 mmHg ở tư thế nằm; giảm 5,9 mmHg và 2,9 mmHg ở tư thế đứng [6]. Phân tích hồi quy xác nhận việc cắt giảm cồn đóng góp độc lập vào việc hạ cả huyết áp tâm thu lẫn tâm trương, không phụ thuộc hoàn toàn vào mức giảm cân nặng 0,94 kg ghi nhận được [6].

Lợi ích và giới hạn của bằng chứng hiện có

Các bằng chứng khoa học cho thấy việc giảm cồn mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc kiểm soát huyết áp và có thể giảm bớt nhu cầu sử dụng thuốc điều trị [3, 4]. Một số phân tích gộp cũng khẳng định lợi ích của việc kiêng hoặc giảm tiêu thụ cồn đối với kết quả tim mạch chung [2].

Dù vậy, các nghiên cứu cũng có những giới hạn nhất định. Dữ liệu khảo sát dịch tễ thường dựa trên bảng hỏi tự báo cáo lượng đồ uống, có thể dẫn đến việc báo cáo thấp hơn lượng cồn thực tế nạp vào [2, 5]. Ngoài ra, một số nghiên cứu can thiệp chỉ thực hiện trên cỡ mẫu nhỏ gồm các nam giới trưởng thành, thời gian theo dõi ngắn trong vài tuần [3, 4]. Các kết quả này cần được đối chiếu thận trọng khi áp dụng cho các đối tượng khác như phụ nữ hoặc người cao tuổi có nhiều bệnh lý nền kết hợp.

Đồng thời, đồ uống có cồn có thể mang theo các nguy cơ khác ngoài ethanol. Điển hình như nghiên cứu năm 1989 trên 161 người nghiện rượu chỉ ra nồng độ chì trong máu trung bình là 28 microgam/100 ml, và nồng độ chì tương quan thuận với cả huyết áp tâm thu lẫn tâm trương mà không phụ thuộc vào tuổi hay cân nặng [7]. Người uống rượu vang có nồng độ chì máu (29,8 microgam/100 ml) cao hơn người uống bia hoặc rượu mạnh (23,8 microgam/100 ml) [7].

Ai nên đặc biệt thận trọng với đồ uống có cồn?

Người đã được chẩn đoán mắc bệnh tăng huyết áp hoặc đang phải sử dụng thuốc hạ áp hàng ngày cần kiểm soát chặt chẽ lượng cồn nạp vào. Việc uống nhiều rượu bia thường xuyên sẽ làm mất tác dụng ổn định huyết áp của thuốc đang điều trị [3, 4].

Người có thói quen hút thuốc lá đồng thời uống rượu bia phải đối mặt với nguy cơ tăng huyết áp tăng vọt. Dữ liệu theo dõi 8 năm cho thấy người tiêu thụ 154 g ethanol mỗi tuần có kèm hút thuốc lá có tỷ số chênh mắc tăng huyết áp lên tới 1,81, cao hơn rõ rệt so với mức 1,51 ở người uống cùng lượng cồn nhưng không hút thuốc [4]. Sự tương tác bất lợi giữa cồn và khói thuốc đẩy nhanh quá trình tổn thương thành mạch [4].

Người có tiền sử "uống say xỉn theo đợt" (binge drinking) - được định nghĩa là nạp từ 100 g ethanol trở lên ở nam giới hoặc 60 g ethanol trở lên ở nữ giới trong một lần uống ít nhất một lần mỗi tháng - cũng là nhóm có rủi ro cao bị rối loạn điều hòa tim mạch cấp tính [1].

Hướng dẫn áp dụng kiểm soát cồn trong đời sống

Để bảo vệ thành mạch và ngăn ngừa tăng huyết áp, người dân cần tuân thủ các khuyến nghị quốc tế về giới hạn tiêu thụ rượu bia. Khuyến cáo từ các hội khoa học đề xuất nam giới không nên uống quá hai đơn vị cồn mỗi ngày, và phụ nữ nên giới hạn dưới một đơn vị cồn mỗi ngày [2].

Cần chuyển đổi thói quen tính toán lượng đồ uống dựa trên nồng độ cồn nguyên chất thay vì số lượng cốc hay ly uống được:

  • Một lon bia tiêu chuẩn (khoảng 330-350 ml với nồng độ 4%) chứa khoảng 13-14 g ethanol [1].
  • Một ly rượu mạnh nhỏ (khoảng 40 ml với nồng độ 36%) cung cấp xấp xỉ 14,4 g ethanol [1].

Như vậy, uống 2 lon bia tươi tương đương nạp lượng cồn của gần 2 ly rượu mạnh. Khi tham gia các buổi tiệc, người uống nên xen kẽ nước lọc, ăn no trước khi uống để giảm tốc độ hấp thu cồn vào máu, tuyệt đối không dồn lượng cồn cho phép của cả tuần vào một bữa nhậu duy nhất [1]. Những người đang điều trị tăng huyết áp hoặc có bệnh lý tim mạch, thận mạn tính cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn mức độ kiêng cữ phù hợp nhất với thể trạng cá nhân.

Không có loại đồ uống có cồn nào thực sự "lành tính" hơn đối với huyết áp nếu không kiểm soát tổng lượng ethanol đưa vào cơ thể. Việc điều chỉnh giảm cồn kết hợp bỏ thuốc lá và duy trì cân nặng ổn định chính là giải pháp tự nhiên, hiệu quả nhất giúp mạch máu luôn khỏe mạnh.