Nhiều người bắt đầu ngày mới bằng một ly cà phê nóng để duy trì sự tỉnh táo và tập trung cho công việc. Thói quen phổ biến này từ lâu đã trở thành một nét văn hóa quen thuộc trong nhịp sống hiện đại. Tuy nhiên, liệu thức uống quen thuộc này có tác dụng thực sự đối với sức khỏe của hệ thần kinh, đặc biệt là nguy cơ mắc bệnh Parkinson hay không?

Nhiều nghiên cứu dịch tễ học và sinh học thực nghiệm xác nhận việc uống cà phê đều đặn có mối liên hệ mật thiết với việc giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson [4, 5]. Tác dụng bảo vệ này không chỉ đến từ caffeine qua cơ chế đối kháng thụ thể adenosine A2A, mà còn có sự đóng góp của nhiều hợp chất sinh học khác như quercetin, cafestol và axit chlorogenic [1, 2, 6].

Bệnh Parkinson và câu hỏi về vai trò của cà phê

Bệnh Parkinson là một bệnh lý thoái hóa thần kinh phổ biến, đặc trưng bởi sự mất dần các tế bào thần kinh sản xuất dopamine (tế bào dopaminergic) và sự tích tụ của protein alpha-synuclein bị cuộn gập sai [1]. Tình trạng này dẫn đến những tổn thương nghiêm trọng cả về vận động lẫn nhận thức của người bệnh [1]. Tần suất mắc bệnh tăng dần theo tuổi tác và bệnh có tỷ lệ xuất hiện ở nam giới cao hơn phụ nữ [1]. Dù y học đã đạt nhiều bước tiến, các phương pháp điều trị hiệu quả để làm chậm hay ngăn chặn dứt điểm tiến trình tiến triển của bệnh vẫn còn là thách thức lớn [1].

Chính vì vậy, sự chú ý của giới khoa học dần chuyển hướng sang việc khảo sát các yếu tố dinh dưỡng hàng ngày nhằm tìm kiếm tiềm năng phòng ngừa [1]. Trong số đó, cà phê là đồ uống được tiêu thụ nhiều nhất trên phạm vi toàn cầu, đứng thứ hai về mặt hàng thương mại sau dầu mỏ [2]. Caffeine – tên khoa học là 1,3,7-trimethylxanthine – là thành phần chính có hoạt tính kích thích hệ thần kinh trung ương và đóng vai trò như một chất điều hòa thần kinh ảnh hưởng đến xử lý thông tin và hành vi vận động [2]. Những quan sát ban đầu về việc người uống cà phê ít mắc bệnh thoái hóa thần kinh hơn đã thúc đẩy hàng loạt nghiên cứu chuyên sâu được tiến hành trong nhiều thập kỷ qua [3].

Cơ chế bảo vệ: Thụ thể Adenosine A2A và trục não - ruột

Một trong những cơ chế nổi bật nhất của caffeine là khả năng đối kháng hay phong tỏa các thụ thể adenosine, đặc biệt là thụ thể adenosine A2A (A2AR) trong hệ thần kinh trung ương [3, 6]. Bằng cách can thiệp vào thụ thể này, caffeine hỗ trợ điều hòa hoạt động của hệ thống dẫn truyền thần kinh và hạn chế các tổn hại đối với tế bào não [3, 6]. Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ gen dinh dưỡng cho thấy cà phê còn tương tác với nhiều gen khác liên quan đến thụ thể estrogen, heme oxygenase, nitric oxide synthase và các vị trí nhạy cảm di truyền của bệnh Parkinson [2].

Ngoài tác động trực tiếp trên não bộ, một giả thuyết cơ chế mới nổi gần đây tập trung vào hệ vi sinh vật đường ruột và trục ruột - não [5, 7]. Bệnh Parkinson có thể bắt nguồn từ đường tiêu hóa, nơi protein alpha-synuclein bị cuộn gập sai trong các dây thần kinh ruột rồi lan truyền dần lên hệ thần kinh trung ương [3]. Việc tiêu thụ cà phê được ghi nhận làm thay đổi thành phần hệ vi khuẩn đường ruột, qua đó giúp làm giảm phản ứng viêm tại ruột [5, 7]. Khi viêm ruột được kiểm soát, sự kết tụ bất thường của protein alpha-synuclein giảm bớt, làm giảm nguy cơ phát tán các tổn thương thoái hóa thần kinh lên não [5, 7].

Bằng chứng dịch tễ học: Các con số từ nghiên cứu quy mô lớn

Mối liên hệ nghịch đảo giữa việc dùng đồ uống có caffeine và bệnh Parkinson đã được ghi nhận lần đầu từ hơn 40 năm trước và liên tục được khẳng định lại qua nhiều nghiên cứu [3].

Một nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp công bố năm 2001 do Hernan và các cộng sự thực hiện trên 61 nghiên cứu bệnh chứng và thuần tập đã đưa ra các kết quả đáng chú ý [3]. Số liệu cho thấy những người uống cà phê có nguy cơ mắc bệnh Parkinson thấp hơn 30% so với những người không uống [3]. Đồng thời, những người hút thuốc lá tại thời điểm khảo sát cũng có nguy cơ thấp hơn 60% so với người chưa từng hút thuốc [3]. Mối liên hệ nghịch này cũng xuất hiện ở các loại đồ uống chứa caffeine khác như trà đen, trà xanh Nhật Bản và trà Trung Quốc [3].

Cũng trong năm 2001, một nghiên cứu thuần tập tiến cứu quy mô lớn theo dõi trên hai nhóm đối tượng: Khảo sát Theo dõi Nhân viên Y tế (HPFS) gồm 47.351 nam giới trong 10 năm và Nghiên cứu Sức khỏe Y tá (NHS) gồm 88.565 nữ giới trong 16 năm [4]. Tất cả người tham gia đều không mắc bệnh Parkinson, đột quỵ hay ung thư ở thời điểm ban đầu, ghi nhận tổng cộng 288 trường hợp mắc mới [4].

Kết quả nghiên cứu thuần tập này ghi nhận:

  • Ở nam giới, sau khi hiệu chỉnh theo tuổi tác và thói quen hút thuốc, nhóm tiêu thụ caffeine cao nhất (1/5 trên cùng) có nguy cơ mắc bệnh Parkinson tương đối là 0,42 (khoảng tin cậy 95%: 0,23 - 0,78) so với nhóm tiêu thụ thấp nhất [4]. Xu hướng nghịch đảo này cũng xuất hiện khi dùng cà phê nói chung, caffeine từ nguồn ngoài cà phê và trà, nhưng không thấy ở cà phê khử caffeine (decaf) [4].
  • Ở nữ giới, mối quan hệ giữa việc tiêu thụ caffeine hoặc cà phê với nguy cơ Parkinson có dạng đường cong chữ U, trong đó mức nguy cơ thấp nhất được ghi nhận ở nhóm tiêu thụ vừa phải, tương đương 1 đến 3 tách cà phê mỗi ngày [4].

Các phân tích gộp sau này tiếp tục tái khẳng định việc thường xuyên dùng caffeine hoặc cà phê chứa caffeine giúp giảm đáng kể nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer, động kinh và Parkinson [5].

Không chỉ có caffeine: Vai trò của các hợp chất sinh học khác

Dù caffeine là thành phần được quan tâm hàng đầu, hạt cà phê chứa hơn một nghìn hợp chất khác nhau, nhiều chất có hoạt tính sinh học chống oxy hóa và kháng viêm mạnh mẽ [6].

Năm 2010, một nghiên cứu trên mô hình ruồi giấm Drosophila mắc bệnh Parkinson đã đem lại phát hiện bất ngờ [7]. Nghiên cứu chỉ ra rằng cà phê và thuốc lá giúp bảo vệ thần kinh, nhưng riêng caffeine tinh khiết hay nicotine đơn lẻ lại không thể hiện tác dụng này trên mô hình thí nghiệm [7]. Cà phê khử caffeine mang lại hiệu quả bảo vệ tế bào thần kinh tương đương với cà phê thông thường chứa caffeine [7]. Tác dụng bảo vệ thần kinh của cà phê khử caffeine đòi hỏi sự hiện diện của yếu tố phiên mã bảo vệ tế bào Nrf2 [7]. Hoạt chất cafestol có trong cà phê đóng vai trò như một chất kích hoạt Nrf2 giúp duy trì hiệu quả bảo vệ này [7].

Tiếp tục làm rõ vấn đề này, một nghiên cứu trong ống nghiệm công bố năm 2016 trên dòng tế bào thần kinh SH-SY5Y bị gây độc bởi lipopolysaccharide và interferon-gamma đã so sánh các thành phần của cà phê [8]. Kết quả cho thấy quercetin, flavone, axit chlorogenic và caffeine đều có tác dụng bảo vệ tế bào SH-SY5Y khỏi các độc tố này [8]. Chúng ức chế giải phóng các cytokine gây viêm như yếu tố hoại tử khối u alpha (TNF-alpha) và interleukin-6 (IL-6) từ tế bào vi bọc đệm và tế bào sao được kích hoạt, đồng thời làm giảm sự hoạt hóa của p38 MAPK và NF-kappaB [8]. Trong đó, quercetin nổi bật khi làm giảm tổn thương oxy hóa/nitrat hóa trên DNA, lipid và protein, đồng thời làm gia tăng nồng độ glutathione nội bào [GSH]i [8]. Nghiên cứu kết luận quercetin là một thành phần bảo vệ thần kinh chính trong cà phê [8].

Lợi ích và giới hạn từ các dữ liệu hiện có

Các bằng chứng khoa học hiện nay cho thấy cà phê là nguồn cung cấp dồi dào các chất chống oxy hóa và chất bảo vệ tế bào thần kinh [3, 4]. Việc duy trì thói quen tiêu thụ cà phê ở liều lượng hợp lý mang lại lợi ích giảm nguy cơ thoái hóa thần kinh tiến triển [4, 6].

Tuy nhiên, bằng chứng khoa học cũng bộc lộ những giới hạn nhất định. Mối liên hệ nghịch đảo giữa hút thuốc, uống cà phê và bệnh Parkinson vẫn còn hai giả thuyết chưa được giải quyết dứt điểm: liệu đây là tác dụng bảo vệ thần kinh thực sự của các hoạt chất hay do những người có nguy cơ mắc bệnh Parkinson từ trước đã mang đặc điểm tính cách bẩm sinh không thích uống cà phê và không thích hút thuốc [1, 5]. Thêm vào đó, kết quả bảo vệ thần kinh của cà phê khử caffeine và cafestol chủ yếu được ghi nhận trên sinh vật mô hình ruồi giấm, trong khi các thử nghiệm lâm sàng trên người vẫn cần được thực hiện thêm để làm rõ cơ chế nhân quả chính xác [1, 6].

Những hiểu lầm thường gặp

Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần uống thật nhiều cà phê là có thể ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Đây là quan điểm chưa chính xác. Cà phê chỉ là một yếu tố dinh dưỡng hỗ trợ làm giảm nguy cơ dịch tễ, không phải là thuốc điều trị và không thể chữa khỏi bệnh khi tổn thương thần kinh đã xuất hiện [1].

Một hiểu lầm khác là chỉ có cà phê đậm đặc chứa nhiều caffeine mới có lợi. Dữ liệu thực nghiệm chứng minh rằng các chất chống oxy hóa như quercetin, axit chlorogenic và cafestol độc lập với caffeine vẫn đóng góp rất lớn vào khả năng chống viêm và bảo vệ tế bào não [1, 2, 6]. Mặt khác, việc lạm dụng caffeine quá mức không mang lại lợi ích lũy tiến vô hạn mà có thể gây ra nhiều hệ lụy cho sức khỏe tim mạch và giấc ngủ.

Ai nên thận trọng khi uống cà phê?

Dù cà phê đem lại nhiều lợi ích tiềm năng, không phải ai cũng thích hợp để sử dụng thức uống này một cách tùy tiện. Phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ đang có ý định mang thai cần kiểm soát lượng caffeine nạp vào cơ thể ở mức an toàn.

Những người có tiền sử nhạy cảm với caffeine, người mắc chứng mất ngủ mãn tính, rối loạn lo âu, rối loạn nhịp tim hoặc người có bệnh lý dạ dày cần thận trọng khi sử dụng. Đặc biệt, những bệnh nhân đang điều trị bệnh lý nền hoặc đang sử dụng các thuốc kê đơn chuyên khoa cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị để tránh các tương tác thuốc bất lợi.

Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn

Theo hướng dẫn từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), người trưởng thành khỏe mạnh có thể tiêu thụ tối đa 400 mg caffeine mỗi ngày, tương đương khoảng 5 đến 6 mg/kg thể trọng [5]. Do mỗi tách cà phê thông thường chứa trung bình từ 100 đến 150 mg caffeine, việc duy trì từ 1 đến 3 tách cà phê mỗi ngày được xem là lượng dùng thích hợp để hỗ trợ phòng ngừa các bệnh mạn tính [5]. Mức tiêu thụ 1 đến 3 tách mỗi ngày cũng là mức tối ưu giúp giảm nguy cơ Parkinson ở nữ giới theo ghi nhận từ nghiên cứu đoàn hệ [4].

Nên ưu tiên uống cà phê vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều để không làm rối loạn nhịp sinh học và giấc ngủ ban đêm. Hạn chế pha thêm quá nhiều đường tinh luyện, sữa đặc hay kem béo công nghiệp để tránh làm tăng nguy cơ rối loạn chuyển hóa. Người dùng có thể luân phiên hoặc kết hợp cà phê với chế độ ăn giàu rau xanh, hoa quả tươi và duy trì lối sống vận động lành mạnh.

Tóm lại, thói quen uống cà phê điều độ hàng ngày mang lại nhiều tín hiệu tích cực trong việc giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson thông qua cơ chế phong tỏa thụ thể adenosine và khả năng kháng viêm, chống oxy hóa từ các hợp chất tự nhiên. Tuy vậy, cà phê không thể thay thế một lối sống lành mạnh hay các phác đồ y khoa chuẩn mực. Người tiêu dùng nên duy trì mức dùng cân bằng từ 1 đến 3 tách mỗi ngày và tham vấn bác sĩ khi có vấn đề về sức khỏe.