Nhiều người cao tuổi thường truyền tai nhau cách dùng lá hen bồng bồng hơ nóng hoặc giã nát đắp vào khớp đau nhức. Không ít người tin rằng loại cây mọc hoang này có thể trị dứt điểm chứng thoái hóa khớp hay viêm khớp mạn tính. Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của thảo dược này đến đâu vẫn là dấu hỏi lớn.

Thực tế, các bằng chứng khoa học hiện nay chỉ ghi nhận hoạt tính kháng viêm, giảm đau của cây bồng bồng trên mô hình tế bào và động vật thực nghiệm [1], [2]. Hoàn toàn chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng trên người chứng minh dược liệu này chữa khỏi bệnh lý cơ xương khớp. Việc tự ý đắp ngoài da còn tiềm ẩn rủi ro kích ứng, bỏng rát do độc tính từ mủ thực vật.

Tên gọi và nguồn gốc thảo dược

Cây bồng bồng, hay còn gọi là lá hen, bồng bồng lớn, có tên khoa học là Calotropis gigantea, thuộc họ La bố ma (Apocynaceae) [1]. Đây là loài cây bụi lớn, phân bố nhiều tại các khu vực châu Á và châu Phi [1]. Đặc điểm nổi bật của cây là thân và cành chứa dịch nhựa mủ màu trắng đục.

Trong y học cổ truyền nhiều nước, các bộ phận của cây bồng bồng như rễ, vỏ thân, hoa và lá thường được dùng để can thiệp một số chứng bệnh viêm nhiễm ngoài da, nhọt độc, loét, phong hủi hoặc tình trạng đau nhức do thấp khớp, gút [1], [3]. Thói quen dân gian tại Việt Nam chủ yếu dùng lá đắp ngoài để giảm sưng tấy các khớp.

Cơ chế sinh học qua thử nghiệm trong ống nghiệm

Để tìm hiểu khả năng chống viêm của cây, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích thành phần hóa học và tác động sinh học của dịch chiết lá bồng bồng trong phòng thí nghiệm. Các hoạt chất thực vật nhóm ancaloit, flavonoid, terpenoid và polyphenol đã được định tính và định lượng cụ thể [1].

Một nghiên cứu công bố năm 2023 cho thấy các phân đoạn chiết xuất từ lá bồng bồng có khả năng ức chế sự biến tính của protein và kiềm chế hoạt động của các enzym proteinase gây tổn thương mô [1]. Đồng thời, chiết xuất thực vật này còn hỗ trợ ổn định màng hồng cầu trước tác động phá hủy của nhiệt độ, cũng như dọn dẹp các gốc tự do nitric oxit [1].

Bên cạnh lá, hoa bồng bồng cũng thể hiện tác động lên quá trình viêm tế bào. Nghiên cứu năm 2016 đã phân lập hai hoạt chất steroid dạng peoxit từ hoa là 9,11-dehydroergosterol peroxide và ergosterol peroxide [4]. Cả hai hợp chất này đều biểu hiện tác dụng ức chế enzym IKK-beta phụ thuộc vào liều lượng từ 1 đến 100 micromol/L, can thiệp vào con đường truyền tín hiệu gây viêm NF-kappaB [4].

Ở nồng độ 100 micromol/L, hai chất này ức chế IKK-beta mạnh hơn đáng kể so với chất đối chứng berberine, với giá trị p lần lượt là 0,001 và 0,028 [4]. Điều này giải thích phần nào cơ sở dân gian dùng cây để đắp các tổn thương sưng viêm [4].

Bằng chứng kháng viêm trên mô hình động vật

Tác dụng giảm phù nề và hạ sốt của cây bồng bồng đã được khảo sát trên nhiều mô hình sinh học từ năm 2006 [2]. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã dùng mô hình gây phù bàn chân chuột bằng carrageenan và kaolin để đánh giá tình trạng viêm cấp tính [2].

Kết quả ghi nhận hoạt tính kháng viêm của các hợp chất thử nghiệm đạt đỉnh sau khoảng 2 giờ [2]. Phân đoạn ancaloit thể hiện khả năng giảm viêm ban đầu tương đối cao [2]. Hoạt tính giảm đau cũng được xác nhận qua thử nghiệm gây quặn đau bằng phenylquinone trên chuột nhắt [2]. Mô hình u hạt do viên bông và viêm khớp bổ trợ mạn tính cũng phản ánh sự suy giảm phản ứng viêm [2].

Ở cấp độ phân tử sâu hơn, một nghiên cứu công bố năm 2012 đã phân lập hoạt chất triterpenoid lupeol từ nhựa mủ cây bồng bồng để kiểm tra trên chuột cống bị viêm khớp mạn tính do chất bổ trợ FCA [5]. Chuột được cho uống lupeol với liều 50 mg/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày liên tục trong 4 tuần [5].

Kết thúc liệu trình, lupeol đã làm thay đổi tích cực các chỉ số như thể tích sưng phù chân chuột, số lượng hồng cầu, bạch cầu, nồng độ hemoglobin, tốc độ lắng máu (ESR), tiểu cầu và thể tích khối hồng cầu (PCV) [5]. Đồng thời, hoạt chất này làm giảm các cytokine gây viêm bao gồm TNF-alpha, IL-1beta, IL-6 và điều hòa cytokine kháng viêm IL-10 [5].

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm tới thực tế

Dù các kết quả thực nghiệm mang lại triển vọng, người bệnh cần nhìn nhận rõ giới hạn của các dữ liệu khoa học hiện có. Toàn bộ các nghiên cứu trên chỉ được tiến hành trên tế bào cô lập hoặc loài gặm nhấm [1], [2], [5], [4].

Đặc biệt, nghiên cứu chứng minh tác dụng giảm sưng khớp sử dụng hoạt chất tinh khiết lupeol chiết xuất bằng kỹ thuật màng thẩm tách và cho chuột uống với liều chuẩn xác [5]. Điều này hoàn toàn khác biệt với việc người dân dùng lá tươi nguyên bản hơ nóng rồi đắp ngoài da. Hoạt chất qua da hấp thu rất hạn chế và nồng độ không đồng đều.

Cho đến nay, chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nào trên người xác minh hiệu quả làm chậm thoái hóa khớp hay chữa dứt điểm viêm khớp dạng thấp của lá bồng bồng. Do đó, thảo dược này không thể thay thế phác đồ điều trị nội khoa chuẩn mực.

Cảnh báo nguy cơ dị ứng và độc tính tiếp xúc

Nhựa mủ của cây bồng bồng chứa nhiều hợp chất sinh học phức tạp, trong đó có các glycozit tim (cardenolide) có độc tính tế bào [6]. Các bộ phận của cây cũng cho thấy độc tính đáng kể đối với ấu trùng tôm Artemia salina qua các nghiên cứu chiết xuất [3].

Khi giã nát hoặc hơ nóng lá đắp trực tiếp lên da, dịch mủ tiết ra rất dễ gây kích ứng biểu bì, đỏ rát, ngứa ngáy dữ dội hoặc hình thành mụn nước phồng rộp dạng viêm da tiếp xúc. Nếu không may để mủ dính vào mắt hoặc vùng niêm mạc mỏng, độc chất có thể dẫn đến viêm loét giác mạc nghiêm trọng.

Người bệnh không nên nhầm lẫn giữa cảm giác nóng rát do kích ứng da với hiện tượng khớp "tiêu viêm". Việc tổn thương hàng rào bảo vệ da còn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi khuẩn mô mềm quanh khớp.

Những ai tuyệt đối không nên áp dụng?

Những người có làn da nhạy cảm, người có tiền sử viêm da dị ứng hoặc đang mắc các bệnh lý da liễu tại chỗ không được tự ý đắp lá bồng bồng. Vùng da quanh khớp đang có vết xước, lở loét hoặc viêm tấy đỏ càng phải tránh xa.

Người bệnh mắc các bệnh lý xương khớp tự miễn nặng như viêm khớp dạng thấp hay gút cấp tính cần được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và kê đơn kiểm soát. Tự ý bỏ thuốc điều trị để đắp lá có thể dẫn đến dính khớp, biến dạng khớp không thể phục hồi. Phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ tuyệt đối không tiếp xúc với nhựa mủ cây bồng bồng vì nguy cơ ngộ độc.

Lời khuyên chăm sóc khớp an toàn

Bệnh nhân xương khớp cần duy trì lối sống khoa học, kiểm soát cân nặng hợp lý để giảm tải áp lực cơ học lên các khớp gối và cột sống. Chế độ dinh dưỡng cân bằng, đủ chất và tập luyện nhẹ nhàng như bơi lội, đi bộ là nền tảng bảo vệ sụn khớp.

Khi xuất hiện cơn đau nhức, người bệnh có thể áp dụng các biện pháp vật lý trị liệu an toàn như chườm ấm bằng khăn sạch hoặc túi nhiệt y tế thay vì đắp các loại lá cây lạ. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp trước khi sử dụng bất kỳ bài thuốc dân gian nào để bảo vệ sức khỏe bản thân.