Sau khi thưởng thức một bát phở đậm đà hay một bữa ăn ngoài hàng, không ít người từng trải qua cảm giác mỏi gáy, tê rần vùng cổ, nóng bừng mặt hoặc tim đập nhanh. Hiện tượng này thường lập tức được quy kết cho việc người nấu nêm quá nhiều bột ngọt, hay còn gọi là mì chính. Trong dân gian và đời sống thường nhật, nhiều người quen gọi đây là tình trạng say bột ngọt hoặc "hội chứng quán ăn".

Tuy nhiên, liệu bột ngọt có thực sự là thủ phạm gây ra những cảm giác khó chịu này hay không? Câu trả lời từ các nghiên cứu khoa học đối chứng nghiêm ngặt cho thấy, mối liên hệ giữa bột ngọt dùng trong bữa ăn thông thường và các phản ứng khó chịu là thiếu căn cứ khoa học, dù một số phản ứng tạm thời có thể xuất hiện khi dùng liều cao lúc đói ở những người nhạy cảm.

Nguồn gốc của "hội chứng quán ăn"

Bột ngọt có tên khoa học là monosodium glutamate (MSG), vốn có lịch sử sử dụng lâu dài trong thực phẩm như một chất điều vị [1]. Về bản chất, đây là dạng muối của một axit amin không thiết yếu [2]. Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phân loại bột ngọt vào nhóm các chất nhìn chung được công nhận là an toàn (GRAS) [1].

Dù vậy, cuộc tranh luận xoay quanh việc liệu phụ gia này có gây ra các phản ứng bất lợi hay không vẫn kéo dài dai dẳng qua nhiều thập kỷ [1]. Khái niệm phức hợp triệu chứng sau khi ăn một bữa ăn Trung Hoa lần đầu tiên được mô tả vào năm 1968 [1]. Kể từ quan sát ban đầu đó, bột ngọt bị nghi ngờ là tác nhân kích hoạt các triệu chứng khó chịu và thuật ngữ "hội chứng quán ăn Trung Hoa" (Chinese Restaurant Syndrome - CRS) đã ra đời [1].

Sau mô tả ban đầu này, vô số báo cáo mang tính giai thoại đã được công bố rộng rãi [1]. Một số ghi chép ban đầu vào năm 1969 từng nhận định bột ngọt là nguyên nhân gây ra hội chứng này, có thể gây đau đầu, cảm giác nóng rát, áp lực vùng mặt và đau ngực theo mối quan hệ phụ thuộc liều lượng [3]. Thậm chí, tài liệu này còn cho rằng ngưỡng phản ứng qua đường miệng có sự thay đổi đáng kể giữa các cá nhân [3]. Những ghi nhận ban đầu ấy đã khiến bột ngọt mang tiếng xấu suốt nhiều thế hệ.

Cơ chế tác động: Bột ngọt trong bữa ăn khác bột ngọt uống lúc đói

Sau những nghi ngờ ban đầu, nhiều nhóm nghiên cứu đã tiến hành các thử nghiệm lâm sàng với độ chặt chẽ khác nhau, từ thử nghiệm nhãn mở không kiểm soát đến các nghiên cứu mù đôi có đối chứng giả dược [1]. Khi đánh giá một cách tổng thể, các nghiên cứu đã phát hiện ra một sự thật quan trọng: tác động của bột ngọt khi đưa vào cơ thể phụ thuộc rất lớn vào việc nó có được tiêu thụ cùng thức ăn hay không [4].

Thực phẩm đóng vai trò to lớn trong việc làm triệt tiêu những ảnh hưởng của các liều bột ngọt lớn [4]. Việc các nghiên cứu trước đây ngoại suy kết quả thử nghiệm khi không có thức ăn sang các tình huống sử dụng thực tế trong đời sống đã bị đặt dấu hỏi lớn [4]. Khi xem xét toàn diện các phương pháp nghiên cứu trước đây, vị đậm đặc trưng của bột ngọt chính là yếu tố làm mất hiệu lực của hầu hết các tuyên bố "mù" và "mù đôi" của các nhà nghiên cứu [4]. Nếu người tham gia nếm được vị bột ngọt, hiệu ứng tâm lý sẽ can thiệp vào kết quả tự báo cáo triệu chứng.

Khi các thử nghiệm được thiết kế nghiêm ngặt để che giấu hoàn toàn vị giác bằng viên nang hoặc đồ uống chuyên biệt, phản ứng cơ thể ghi nhận được lại hoàn toàn khác biệt [4]. Thức ăn trong dạ dày giúp làm chậm quá trình hấp thu, phân tán nồng độ glutamate và không tạo ra sự biến đổi đột ngột nào trong cơ thể [4].

Bằng chứng từ các thử nghiệm mù đôi ngẫu nhiên lớn nhất

Để xác minh thực hư, một nghiên cứu thử nghiệm chéo mù đôi ngẫu nhiên nghiêm ngặt đã được tiến hành trên 71 người khỏe mạnh, sử dụng giả dược và các liều bột ngọt 1,5 g, 3,0 g và 3,15 g cho mỗi người (tương đương 0,015 đến 0,07 g/kg trọng lượng cơ thể) trước bữa sáng tiêu chuẩn trong 5 ngày [4]. Nghiên cứu này đã kiểm soát chặt chẽ những đối tượng có thể nhận biết dư vị bột ngọt bằng cách dùng viên nang và thức uống có công thức đặc biệt [4]. Kết quả cho thấy phần lớn đối tượng hoàn toàn không có phản ứng nào với cả giả dược (86%) lẫn bột ngọt (85%) [4].

Các cảm giác trước đây từng bị quy kết cho bột ngọt không xuất hiện ở tỷ lệ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với khi dùng giả dược [4]. Thậm chí, các nhà nghiên cứu còn ghi nhận mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa liều lượng bột ngọt và các tác động sau khi dùng [4]. Nghiên cứu đi đến kết luận rằng "hội chứng quán ăn Trung Hoa" chỉ là một giai thoại được gán cho nhiều tình trạng khó chịu khác nhau sau bữa ăn, và không thể tìm thấy bằng chứng khoa học thực tế, chặt chẽ nào liên kết hội chứng này với bột ngọt [4].

Ở quy mô lớn hơn, một thử nghiệm mù đôi có đối chứng giả dược đa trung tâm trên 130 đối tượng – nghiên cứu lớn nhất tính đến thời điểm thực hiện – đã phân tích phản ứng ở những người tự cho rằng mình bị triệu chứng khi ăn bột ngọt [1]. Kết quả cho thấy liều lớn bột ngọt dùng khi không có thức ăn có thể tạo ra nhiều triệu chứng hơn so với giả dược ở những người tin rằng họ phản ứng tiêu cực với chất này [1]. Dẫu vậy, tần suất phản ứng là rất thấp, các phản ứng được báo cáo không nhất quán và không thể lặp lại trong các lần thử nghiệm tiếp theo [1]. Điều cốt lõi là các phản ứng này hoàn toàn biến mất khi bột ngọt được dùng chung với thức ăn [1].

Một nghiên cứu mù đôi chéo ngẫu nhiên khác được thực hiện trên 52 người tình nguyện khỏe mạnh tại Indonesia, sử dụng viên nang chứa giả dược hoặc bột ngọt ở mức 1,5 g và 3,0 g kèm bữa sáng tiêu chuẩn theo ẩm thực địa phương [5]. Kết quả ghi nhận sự xuất hiện của các triệu chứng sau khi ăn bột ngọt không hề có sự khác biệt so với sau khi dùng giả dược [5]. Các cuộc khảo sát và thử nghiệm lâm sàng trên dân số nói chung cũng không tìm thấy bằng chứng về bất kỳ tác động có hại nào [1].

Thực hư về đau đầu, tăng huyết áp và cảm giác căng cơ

Mặc dù bột ngọt dùng chung với bữa ăn không gây ra hội chứng lan truyền như lời đồn, các nhà khoa học vẫn ghi nhận một số phản ứng sinh lý khi dùng bột ngọt liều cao dạng dung dịch lúc đói [6].

Trong một nghiên cứu mù đôi chéo có đối chứng giả dược năm 2010, 14 nam giới khỏe mạnh đã uống nước ngọt không đường chứa bột ngọt liều 75 mg/kg hoặc 150 mg/kg, so sánh với giả dược là muối ăn NaCl (24 mg/kg) [6]. Các chỉ số về mức glutamate trong huyết tương, cảm giác đau, ngưỡng chịu đau do áp lực, huyết áp, nhịp tim và các tác dụng bất lợi được theo dõi trong 2 giờ [6].

Kết quả cho thấy không phát hiện thấy hiện tượng đau cơ hay thay đổi rõ rệt về độ nhạy cảm cơ học [6]. Tuy nhiên, đã có sự gia tăng có ý nghĩa các báo cáo về triệu chứng đau đầu và cảm giác căng tức cơ quanh sọ được ghi nhận chủ quan sau khi uống bột ngọt [6]. Bên cạnh đó, huyết áp tâm thu tăng lên ở nhóm dùng bột ngọt liều cao so với nhóm dùng liều thấp và nhóm giả dược [6]. Những dữ liệu này bổ sung thông tin cho thấy việc tiêu thụ một lượng lớn glutamate dạng lỏng, tinh khiết mà không có thức ăn bảo vệ có thể tạm thời kích thích mạch máu và dẫn đến đau đầu ở một số người [6].

Mối liên hệ với rối loạn nhịp tim và cơn hen phế quản

Nhiều người đi ăn ngoài hàng quán thường phàn nàn rằng họ bị đánh trống ngực hoặc tim đập loạn xạ và lo sợ bột ngọt gây loạn nhịp tim [7]. Để làm sáng tỏ điều này, một nghiên cứu đơn nhánh có đối chứng giả dược tại Trung tâm Y tế Học thuật ở Amsterdam đã theo dõi các bệnh nhân rung nhĩ kịch phát từng báo cáo xuất hiện triệu chứng nhất quán sau khi dùng bột ngọt [7].

Nghiên cứu được tiến hành trên 6 nam giới, theo dõi bằng máy Holter điện tâm đồ 24 giờ sau khi dùng giả dược, 1,5 g bột ngọt và 3 g bột ngọt [7]. Kết quả cho thấy cả liều 1,5 g và 3 g bột ngọt đều không liên quan đến sự khởi phát rung nhĩ, các rối loạn nhịp tim khác hay hội chứng quán ăn [7]. Các nhà nghiên cứu kết luận những món ăn đậm vị như vịt quay Bắc Kinh hoàn toàn có thể được đưa vào thực đơn mà không khiến người dự tiệc phải nhập viện cấp cứu vì các đợt rung nhĩ mới [7].

Tuy nhiên, đối với người mắc bệnh hen suyễn, dữ liệu y khoa yêu cầu sự thận trọng hơn [8]. Một nghiên cứu năm 1987 trên 32 bệnh nhân hen suyễn, trong đó một số người có tiền sử lên cơn hen nặng sau khi ăn bữa ăn quán Trung Hoa hoặc món cay nồng, đã tiến hành thử thách mù đơn có đối chứng giả dược [8]. Sau 5 ngày ăn chế độ không phụ gia và nhịn đói qua đêm, các bệnh nhân được uống viên nang bột ngọt với liều tăng dần từ 0,5 g đến 5,0 g [8].

Kết quả ghi nhận 13 đối tượng có phản ứng [8]. Trong đó, 7 người phát triển triệu chứng hen cùng hội chứng quán ăn từ 1 đến 2 giờ sau khi uống [8]. Đáng chú ý, 6 người khác không xuất hiện hội chứng quán ăn nhưng cơn hen lại khởi phát muộn sau 6 đến 12 giờ [8]. Nghiên cứu xác nhận bột ngọt có thể kích hoạt cơn hen theo cơ chế phụ thuộc liều lượng và phản ứng có thể bị trì hoãn tới 12 giờ, khiến cả bệnh nhân và bác sĩ gặp khó khăn trong việc nhận biết [8]. Dù vậy, một bài tổng quan y khoa năm 2009 nhấn mạnh rằng trải qua nhiều thập kỷ nghiên cứu, y học vẫn chưa thể chứng minh được mối liên hệ rõ ràng và nhất quán giữa việc ăn bột ngọt và sự phát triển của tình trạng co thắt phế quản ở người hen, mề đay, phù mạch hay viêm mũi [2].

Ai nên thận trọng khi sử dụng bột ngọt?

Từ các bằng chứng khoa học đối chứng chặt chẽ, đa số người khỏe mạnh không cần phải lo lắng về việc sử dụng bột ngọt ở mức thông thường trong bữa ăn [4], [1]. Tuy nhiên, dựa trên các nghiên cứu cụ thể, một số nhóm đối tượng sau cần có sự lưu tâm:

Thứ nhất là người mắc bệnh hen suyễn nhạy cảm. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy bột ngọt liều cao lúc đói có thể kích hoạt cơn co thắt phế quản sau vài giờ đến 12 giờ ở một số cá nhân có cơ địa phản ứng [8]. Do đó, người có tiền sử hen suyễn nặng nghi ngờ liên quan đến thực phẩm nên thận trọng, theo dõi triệu chứng hô hấp sau ăn và tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị [8].

Thứ hai là người có tiền sử nhạy cảm hoặc dễ bị đau đầu. Vì liều lớn bột ngọt không đi kèm thức ăn đã được chứng minh có thể làm tăng nhẹ huyết áp tâm thu và gây căng cơ quanh sọ, đau đầu trong điều kiện thử nghiệm, những người này không nên tiêu thụ các loại nước dùng nêm quá đậm gia vị khi bụng đang đói [6].

Cần lưu ý thêm rằng, các kết luận an toàn hiện tại chủ yếu được thực hiện trên người trưởng thành khỏe mạnh [4], [5], [6] hoặc các nhóm bệnh nhân cụ thể [8], [7]. Chưa có dữ liệu nghiên cứu chuyên sâu về các phản ứng này trên phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú hay trẻ nhỏ trong các trích đoạn đối chứng; do đó việc tiêu thụ gia vị ở các nhóm này luôn cần sự điều độ và cân nhắc theo hướng dẫn y tế chung.

Cách sử dụng bột ngọt an toàn và hợp lý

Những phát hiện khoa học mang lại góc nhìn rất rõ ràng về cách dùng bột ngọt trong đời sống thực tế:

Không ăn bột ngọt lúc bụng rỗng: Thức ăn là yếu tố bảo vệ then chốt [4]. Việc nuốt phải lượng lớn bột ngọt hòa tan trong nước khi dạ dày hoàn toàn trống rỗng có thể kích hoạt các phản ứng khó chịu tạm thời ở người nhạy cảm [1], [6]. Khi ăn phở hay các món nước ngoài hàng, bạn nên ăn bánh phở, thịt hoặc rau trước thay vì chỉ húp nước dùng đậm đặc ngay lúc đói.

Dùng lượng vừa phải: Các nghiên cứu thường dùng mức thử nghiệm từ 1,5 g đến 3,0 g mỗi bữa ăn và chứng minh tính an toàn khi ăn kèm thực phẩm [4], [5], [7]. Không nên lạm dụng nêm nếm quá mức nhằm tạo độ ngọt nhân tạo thay thế cho vị ngọt tự nhiên của nguyên liệu.

Tỉnh táo trước các triệu chứng: Cảm giác mệt mỏi, đầy bụng hay khát nước sau khi ăn ngoài quán đôi khi bắt nguồn từ việc món ăn có quá nhiều chất béo, dầu mỡ, quá mặn hoặc do ăn quá no, thay vì đổ lỗi hoàn toàn cho bột ngọt [4].

Lời kết

Các thử nghiệm mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng đã xóa bỏ phần lớn định kiến về "hội chứng quán ăn" gắn liền với bột ngọt suốt nửa thế kỷ qua [4], [1], [2]. Bản chất của bột ngọt không phải là chất độc hại gây đột quỵ hay rối loạn nhịp tim như những lời đồn thổi [1], [7]. Một chế độ dinh dưỡng cân bằng, nêm nếm gia vị vừa phải và luôn kết hợp bột ngọt trong bữa ăn đầy đủ dưỡng chất là chìa khóa để vừa thưởng thức trọn vẹn hương vị món ăn, vừa an tâm bảo vệ sức khỏe. Nếu bạn có bệnh nền đặc thù như hen suyễn hoặc thường xuyên gặp phản ứng bất thường, hãy chủ động lắng nghe cơ thể và tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa [8].