Nỗi lo về phytoestrogen và thắc mắc thường gặp
Nhiều phụ nữ khi nghe đến phytoestrogen (estrogen thực vật) thường nảy sinh tâm lý e ngại. Với người mắc bệnh phụ khoa như u xơ tử cung hoặc ung thư vú, câu hỏi liệu ăn hạt lanh có làm khối u phát triển thêm hay không luôn là mối băn khoăn lớn.
Thực tế, dữ liệu khoa học hiện nay chỉ ra rằng lignan trong hạt lanh có hoạt tính estrogen yếu và thường biểu hiện tính chất kháng estrogen ở các mô nhạy cảm nội tiết tố [1]. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung gần như toàn bộ vào ung thư vú, trong khi bằng chứng trực tiếp trên người bệnh u xơ tử cung vẫn chưa có dữ liệu nghiên cứu để kết luận.
Cơ chế tác động: Phytoestrogen đối kháng hay kích thích?
Hạt lanh là nguồn thực vật giàu lignan bậc nhất, chứa hàm lượng lignan cao gấp khoảng 100 lần so với các thực phẩm khác [1]. Trong hạt lanh, hợp chất secoisolariciresinol diglucoside (SDG) chiếm khoảng 95% tổng lượng lignan, phần 5% còn lại gồm lariciresinol, pinoresinol và matairesinol [1]. Khi đi vào cơ thể, vi khuẩn tại đại tràng sẽ chuyển hóa SDG thành hai dạng lignan động vật có hoạt tính sinh học là enterodiol (ED) và enterolactone (EL) [1].
Các chất chuyển hóa enterolactone và enterodiol có cấu trúc hóa học tương tự như phân tử estrogen tự nhiên [1]. Nhờ sự tương đồng cấu trúc này, chúng có khả năng gắn vào các thụ thể estrogen của tế bào, hoạt động tương tự các chất điều hòa thụ thể estrogen chọn lọc (SERM) [2], [3]. Khi nồng độ estrogen nội sinh cao, lignan cạnh tranh vị trí gắn trên thụ thể và thể hiện tác động kháng estrogen, từ đó ức chế sự kích thích tăng sinh của tế bào khối u [1], [3].
Ngoài việc cạnh tranh thụ thể, lignan còn tác động đến quá trình chuyển hóa estrogen [1], [4]. Trong cơ thể, estradiol được gan chuyển hóa thành estrone, sau đó biến đổi thành 2-hydroxyestrone (2OHE1) hoặc 16alpha-hydroxyestrone (16OHE1) [1]. Trong khi 2OHE1 có hoạt tính sinh học nhỏ, thì 16OHE1 làm tăng hoạt tính estrogen và thúc đẩy tăng sinh tế bào ung thư [1]. Phytoestrogen giúp điều hòa chuyển hóa nội tiết tố, hạn chế con đường tạo ra các chất chuyển hóa gây hại này [1], [3].
Các bằng chứng nghiên cứu trên tế bào và động vật
Nhiều thử nghiệm tiền lâm sàng đã phân tích chi tiết tác động của hạt lanh cùng các dẫn xuất lignan lên mô ung thư nhạy cảm nội tiết tố:
Một nghiên cứu năm 2007 trên chuột bị cắt buồng trứng được cấy khối u ung thư vú MCF-7 và bổ sung estradiol liên tục đã so sánh chế độ ăn chuẩn với chế độ ăn bổ sung 10% hạt lanh hoặc tiêm enterodiol, enterolactone (liều 15 mg/kg thể trọng) [5]. Kết quả cho thấy cả hạt lanh, enterodiol và enterolactone đều ngăn chặn sự phát triển khối u và ức chế sự sinh mạch do estradiol gây ra [5]. Dịch ngoại bào của khối u ghi nhận sự giảm đáng kể yếu tố kích thích sinh mạch VEGF so với nhóm đối chứng [5]. Thử nghiệm ống nghiệm đi kèm cũng xác nhận enterodiol và enterolactone làm giảm tiết VEGF từ tế bào MCF-7 mà không gây tác dụng kích thích thụ thể [5].
Một nghiên cứu năm 2003 trên hai dòng tế bào ung thư vú thụ thể estrogen âm tính (ER-) gồm MDA-MB-435 và MDA-MB-231 đã kiểm tra tác động của enterodiol, enterolactone và tamoxifen ở nồng độ từ 1 đến 5 microM [6]. Kết quả cho thấy enterodiol và enterolactone ức chế sự bám dính tế bào vào chất nền ngoại bào và ngăn cản sự xâm lấn theo mức liều [6]. Khi kết hợp enterodiol, enterolactone với tamoxifen ở nồng độ 1 microM, hiệu quả ức chế bám dính và xâm lấn tế bào tăng cao hơn so với dùng đơn lẻ [6]. Ở dải nồng độ 0,1 đến 10 microM, enterodiol và enterolactone đều làm giảm sự di chuyển của tế bào ung thư [6].
Một nghiên cứu năm 2010 phân tích nhóm hợp chất lignan vitexin phân lập từ hạt cây thanh mai (Vitex negundo) nhận thấy hợp chất này không chuyển hóa thành enterodiol hay enterolactone như lignan cổ điển, nhưng hỗn hợp EVn-50 và chất tinh khiết VB1 vẫn gây độc tế bào ung thư vú, tuyến tiền liệt, buồng trứng và kích hoạt quá trình tự chết (apoptosis) của tế bào [2]. Trên 7 mô hình ghép dị chủng khối u ở động vật (bao gồm ung thư vú, gan, cổ tử cung), phức hợp này ức chế u thông qua giảm tỷ lệ protein Bcl-2/Bax và hoạt hóa enzyme caspase [2].
Đánh giá tổng quan năm 2014 ghi nhận đa số nghiên cứu trên các mô hình gặm nhấm cho thấy chế độ ăn chứa 2,5% đến 10% hạt lanh hoặc lượng lignan tương đương giúp làm giảm sự phát triển khối u vú [4]. Đáng chú ý, chế độ ăn 10% hạt lanh không cản trở mà còn làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc tamoxifen (liều 80 mg/ngày), trong khi 4% dầu hạt lanh hỗ trợ làm tăng hiệu quả của trastuzumab (liều 2,5 mg/kg) trên mô hình động vật [4].
Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng trên người
Các nghiên cứu quan sát và thử nghiệm lâm sàng can thiệp trên người bệnh ung thư vú cũng mang lại các kết quả đáng chú ý:
Một thử nghiệm lâm sàng mù đôi, ngẫu nhiên có đối chứng năm 2005 được tiến hành trên phụ nữ sau mãn kinh mới được chẩn đoán ung thư vú [7]. Bệnh nhân được chỉ định ăn hàng ngày một chiếc bánh muffin chứa 25 g hạt lanh (19 người, thời gian can thiệp trung bình 32 ngày) hoặc bánh muffin đối chứng giả dược (13 người, thời gian can thiệp trung bình 39 ngày) từ lúc sinh thiết đến ngày phẫu thuật dứt điểm [7]. Kết quả phân tích mô u sau mổ ghi nhận: nhóm ăn hạt lanh giảm 34,2% chỉ số phân chia tế bào Ki-67 (P = 0,001), giảm 71,0% biểu hiện thụ thể c-erbB2 (P = 0,003) và tăng 30,7% tỷ lệ tế bào tự chết apoptosis (P = 0,007) [7]. Lượng bài tiết lignan trong nước tiểu 24 giờ ở nhóm dùng hạt lanh tăng đến 1.300% (P < 0,01) so với nhóm giả dược [7].
Nghiên cứu tổng quan năm 2014 tổng hợp các bằng chứng lâm sàng cho thấy tiêu thụ 25 g hạt lanh mỗi ngày (chứa 50 mg lignan) trong 32 ngày làm giảm sự phát triển của khối u ở bệnh nhân ung thư vú [4]. Ở phụ nữ tiền mãn kinh, việc dùng 50 mg lignan mỗi ngày trong 1 năm giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh [4]. Các nghiên cứu quan sát chỉ ra rằng lượng tiêu thụ hạt lanh và nồng độ lignan trong máu hoặc nước tiểu có liên quan đến việc giảm nguy cơ ung thư vú, đặc biệt ở phụ nữ sau mãn kinh [4], [3]. Lignan còn liên quan đến mức giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú từ 33% đến 70% và giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân từ 40% đến 53% mà không làm giảm hiệu lực của thuốc tamoxifen [4].
Về tương tác với thuốc ức chế aromatase (AI), một thử nghiệm ngẫu nhiên phân nhóm năm 2015 trên 24 phụ nữ sau mãn kinh mắc ung thư vú thụ thể nội tiết dương tính (ER+) đã đánh giá việc dùng hạt lanh kết hợp với anastrozole [8]. Kết quả cho thấy biểu hiện thụ thể ER-beta giảm khoảng 40% ở nhóm dùng phối hợp (dù chưa đạt ý nghĩa thống kê) và có sự giảm nồng độ androstenedione trong máu [8]. Đáng chú ý, nồng độ bài tiết enterolactone ở nhóm dùng kết hợp hạt lanh và AI thấp hơn nhiều so với nhóm chỉ dùng hạt lanh, gợi ý rằng thuốc AI có thể làm giảm khả năng sản sinh lignan động vật từ hạt lanh trong tuần hoàn [8].
Những hiểu lầm thường gặp về phytoestrogen trong hạt lanh
Nhiều người lầm tưởng rằng mọi hợp chất mang tên phytoestrogen đều kích thích mô nhạy cảm nội tiết tố phát triển tương tự như hormone estrogen nồng độ cao trong cơ thể. Thực tế, phytoestrogen nói chung và lignan nói riêng có ái lực yếu hơn nhiều so với estradiol [1]. Khi gắn vào thụ thể tế bào, chúng ngăn chặn các estrogen mạnh hơn liên kết, từ đó tạo ra tác dụng bảo vệ và kháng estrogen trên các khối u phụ thuộc hormone [1], [5].
Một hiểu lầm khác là cho rằng ăn hạt lanh sẽ phát huy tác dụng giống nhau ở tất cả mọi người. Dữ liệu khoa học cho thấy các lignan trong thực vật tồn tại dưới dạng liên kết glycoside và bắt buộc phải được hệ vi sinh đường ruột chuyển hóa thành các dạng có hoạt tính sinh học như enterolactone [3]. Do hệ vi khuẩn đại tràng ở mỗi cá nhân là khác nhau, không phải người nào dùng hạt lanh cũng thu được nồng độ chất chuyển hóa có hoạt tính giống nhau trong máu [3].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Đối với người mắc u xơ tử cung: Hiện tại chưa có nghiên cứu can thiệp hoặc đánh giá trực tiếp nào về việc dùng hạt lanh trên nhóm người bệnh u xơ tử cung trong các dữ liệu nêu trên; các bằng chứng lâm sàng hiện có chỉ tập trung trên bệnh nhân ung thư vú [4], [8], [7]. Do đó, người bệnh u xơ tử cung không nên tự ý dùng các chế phẩm bổ sung lignan liều cao và cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa phụ sản.
Đối với người đang điều trị ung thư vú bằng thuốc ức chế aromatase: Do dữ liệu sơ bộ cho thấy thuốc ức chế aromatase có thể làm giảm sản sinh các dạng lignan có hoạt tính sinh học [8], người bệnh cần trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị ung thư trước khi sử dụng hạt lanh thường xuyên. Ngoài ra, việc dùng thực phẩm này không thay thế bất kỳ phác đồ điều trị y khoa nào đã được chỉ định.
Hướng dẫn áp dụng thực tế an toàn
Hạt lanh và dầu hạt lanh là nguồn cung cấp dồi dào axit béo omega-3 và lignan tự nhiên [1], [4]. Trong các thử nghiệm lâm sàng can thiệp trên người bệnh, mức sử dụng được nghiên cứu an toàn là khoảng 25 g hạt lanh mỗi ngày (tương đương khoảng 50 mg lignan) trộn vào bánh nướng hoặc thực phẩm thông thường [4], [7].
Để cơ thể hấp thu và chuyển hóa tốt nhất, hạt lanh nên được xay mịn trước khi dùng thay vì để nguyên hạt, do lớp vỏ hạt lanh rất cứng và khó tiêu hóa. Bột hạt lanh xay có thể trộn cùng sữa chua, yến mạch, sinh tố hoặc dùng làm nguyên liệu nướng bánh. Khi bắt đầu sử dụng, nên dùng lượng vừa phải để hệ tiêu hóa thích nghi dần và chú ý duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng, đa dạng thực phẩm.
Lời khuyên tổng kết
Các bằng chứng khoa học hiện nay chỉ ra rằng lignan trong hạt lanh hoạt động như một chất điều hòa thụ thể nội tiết chọn lọc, thể hiện tính chất kháng estrogen trên tế bào ung thư vú và an toàn khi dùng ở mức vừa phải [1], [4]. Dù vậy, do chưa có dữ liệu nghiên cứu trực tiếp trên người bệnh u xơ tử cung và cần thêm các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn, người có bệnh nền nhạy cảm nội tiết tố nên chủ động thảo luận cùng bác sĩ điều trị để xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp nhất với tình trạng sức khỏe của bản thân [4].










