Củ ngọt nghẹo (tên khoa học Gloriosa superba) là loài cây hoang dã chứa hàm lượng dược chất rất cao nhưng đồng thời cũng là loại cây cực độc [1, 7]. Nhiều người dân khi đi rừng hoặc tìm kiếm dược liệu thường nhầm lẫn loài củ này với các loại củ ăn được như củ mài, khoai dại hoặc sâm đất. Một ngộ nhận phổ biến và nguy hiểm chết người là cho rằng độc tố thực vật sẽ phân hủy hoàn toàn khi nấu chín kỹ ở nhiệt độ cao.
Sự thật khoa học hoàn toàn ngược lại: nấu chín, luộc sôi hay hầm kỹ đều không thể làm mất độc tính của củ ngọt nghẹo. Độc tố chính trong cây là colchicine có cấu trúc phân tử cực kỳ bền vững với nhiệt độ, khiến việc chế biến bằng nhiệt thông thường trở nên vô tác dụng trong việc khử độc [1]. Việc cố tình hay vô ý ăn củ ngọt nghẹo đã nấu chín vẫn dẫn đến ngộ độc cấp tính đe dọa trực tiếp tính mạng [2].
Hoạt chất colchicine: Nguồn gốc độc tính của củ ngọt nghẹo
Cây ngọt nghẹo là một nguồn chứa dồi dào ancaloit tự nhiên, đặc biệt là colchicine và gloriosine [1, 7]. Hàm lượng colchicine trong các loài Colchicum và Gloriosa dao động từ 0,62% đến 0,9% tính theo khối lượng khô [3]. Trong một khảo sát chiết xuất trên 32 quần thể cây ngọt nghẹo, hàm lượng colchicine thực tế dao động từ 2,12 đến 7,58 mg/g nguyên liệu [4].
Về mặt sinh học, độc tính gây chết người của colchicine bắt nguồn từ khả năng gắn đặc hiệu vào các dimer của protein tubulin, ngăn cản quá trình lắp ráp vi ống (microtubule) [6, 8]. Vi ống là bộ phận thiết yếu tạo nên thoi phân bào giúp các tế bào phân chia. Khi quá trình polymer hóa tubulin bị ức chế, chu kỳ tế bào lập tức bị đình trệ ở pha phân bào, dẫn tới việc các tế bào đang nhân đôi nhanh chóng bị tổn thương hoặc chết theo chu trình [6, 8]. Đặc tính này khiến colchicine trở thành chất độc nguyên sinh chất cực mạnh đối với cơ thể người [6, 7].
Khảo sát khoa học về độ bền nhiệt của độc chất ngọt nghẹo
Quan niệm dân gian cho rằng nhiệt độ nước sôi (100 độ C) có thể bẻ gãy cấu trúc ancaloit đã bị các thử nghiệm thực nghiệm bác bỏ hoàn toàn. Độc tố chiết xuất từ cây ngọt nghẹo có khả năng chịu đựng điều kiện nhiệt khắc nghiệt vượt xa mức nhiệt đun nấu gia đình [1].
Một nghiên cứu công bố năm 2004 đã kiểm tra độ bền nhiệt của các phân đoạn chiết xuất chứa hoạt tính tương tự colchicine từ cây ngọt nghẹo (Gloriosa superba) [1]. Các nhà khoa học tiến hành thử nghiệm độ ổn định nhiệt bằng cách đun nóng dung dịch làm việc 0,5% ở nhiệt độ lên tới 121 độ C trong vòng 15 phút (mức nhiệt tương đương với điều kiện hấp tiệt trùng áp suất cao) [1].
Kết quả cho thấy, ngay cả sau khi chịu nhiệt độ 121 độ C kéo dài 15 phút, các phân đoạn này vẫn duy trì hoạt tính sinh học nguyên vẹn [1]. Khi đánh giá trên hạch não ấu trùng muỗi Aedes aegypti, tỷ lệ dừng tế bào ở kỳ giữa (metaphase rate) đạt từ 90% đến 100%, hoàn toàn tương đương với tác động của dung dịch đối chứng colchicine 1% [1]. Thử nghiệm này chứng minh rõ ràng: nhiệt độ nấu nướng thông thường trong bếp gia đình (khoảng 100 độ C) không thể phân hủy hoạt tính phân bào của colchicine [1].
Giải phóng độc chất cực lớn tại đường tiêu hóa
Không chỉ bền nhiệt, độc tố trong củ ngọt nghẹo còn có tốc độ giải phóng cực kỳ mạnh mẽ khi đi vào dạ dày người [5]. Một nghiên cứu năm 2017 sử dụng thiết bị hòa tan USP-II để đánh giá mức độ giải phóng colchicine từ 5 g các bộ phận của cây ngọt nghẹo trong môi trường dịch vị dạ dày và dịch ruột nhân tạo [5].
Kết quả định lượng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) cho thấy củ ngọt nghẹo là bộ phận giải phóng lượng colchicine cao nhất trong toàn bộ cây [5]. Cụ thể, lượng colchicine tích lũy giải phóng từ củ trong môi trường dạ dày sau 120 phút đạt trung bình tới 2883,15 ± 1295,63 microgam/g, cao hơn rõ rệt so với môi trường ruột (1014,75 ± 268,16 microgam/g) với p < 0,001 [5].
Để so sánh, lượng colchicine giải phóng từ lá trong môi trường dạ dày là 578,25 ± 366,26 microgam/g và từ thân là 345,60 ± 200,08 microgam/g [5]. Như vậy, củ chính là cơ quan tích tụ và phóng thích độc chất lớn nhất của cây ngọt nghẹo, khiến bất kỳ ai ăn phải củ đều tiếp xúc với một lượng chất độc khổng lồ ngay tại dạ dày chỉ trong vòng 2 giờ đầu tiên [5].
Diễn tiến ngộ độc củ ngọt nghẹo: Nguy hiểm và dễ chẩn đoán nhầm
Toàn bộ các bộ phận của cây ngọt nghẹo, đặc biệt là củ, đều cực kỳ độc đối với con người [2]. Tác động ức chế phân bào của colchicine và gloriosine tấn công trực tiếp vào những mô tế bào tăng sinh nhanh như niêm mạc ruột, tủy xương và nang tóc [2].
Báo cáo lâm sàng năm 2015 mô tả một trường hợp nam thanh niên bị ngộ độc củ ngọt nghẹo cấp tính nhập viện với các triệu chứng rất dễ gây nhầm lẫn [2]. Bệnh nhân xuất hiện sốt khởi phát cấp, kèm theo tiêu chảy, lú lẫn, tiểu ra máu và hành vi kích động kéo dài 4 ngày [2]. Sau đó, bệnh nhân phát triển tình trạng xuất huyết dưới kết mạc, chảy máu chân răng, cứng gáy, phù gai thị hai bên, gan to đau và có dấu hiệu tắc ruột bán cấp [2].
Xét nghiệm huyết học cho thấy số lượng bạch cầu và tiểu cầu sụt giảm tiến triển, kèm rối loạn chức năng gan nặng [2]. Đáng chú ý, toàn bộ bệnh cảnh lâm sàng ban đầu của ngộ độc ngọt nghẹo bắt chước hoàn hảo một đợt nhiễm trùng nhiệt đới cấp tính nghiêm trọng như bệnh sốt xuất huyết Dengue hoặc Leptospira [2]. Phải đến ngày thứ 9 của bệnh, tóc của bệnh nhân bắt đầu rụng dần và đến ngày thứ 14 thì rụng tóc toàn bộ, lúc này các bác sĩ mới nghi ngờ và xác định chính xác ngộ độc củ ngọt nghẹo do bệnh nhân tự ý sử dụng [2].
Tại một số nước châu Á như Sri Lanka, ngộ độc cây ngọt nghẹo chiếm khoảng 44% các ca ngộ độc thực vật, trong đó ngộ độc tự ý là vấn đề lâm sàng nghiêm trọng với tỷ lệ tử vong chung do ngộ độc hóa chất và thực vật có thể lên tới 42% [5].
Bác bỏ các hiểu lầm tai hại về việc chế biến củ ngọt nghẹo
Nhiều người lầm tưởng rằng các phương pháp sơ chế như ngâm nước, phơi khô hay nấu chín có thể loại trừ độc tố trong củ ngọt nghẹo:
- Hiểu lầm 1: Nấu chín nhừ sẽ phân hủy chất độc. Bằng chứng khoa học chứng minh đun nóng ở 121 độ C trong 15 phút vẫn không làm suy giảm hoạt tính phân bào của phân đoạn độc tố ngọt nghẹo [1].
- Hiểu lầm 2: Phơi khô làm giảm độc lực. Colchicine là một ancaloit bền vững; nghiên cứu định lượng colchicine từ hạt và củ khô vẫn thu được nồng độ hoạt chất rất cao, từ 0,62% đến 0,9% khối lượng khô [3].
- Hiểu lầm 3: Ngâm nước hoặc luộc đổ nước đi sẽ hết độc. Mặc dù củ giải phóng colchicine vào dung dịch, nhưng dung môi nước và cồn hỗn hợp tỉ lệ 50:50 mới đạt hiệu suất trích xuất colchicine tối đa [6]. Việc luộc thông thường không thể rửa trôi hết lượng độc chất đậm đặc nằm sâu trong mô củ.
Ngoài ra, dù colchicine được nghiên cứu làm thuốc điều trị bệnh gút hay tiềm năng chống ung thư, đây là những ứng dụng y tế ở liều lượng tinh khiết, kiểm soát nghiêm ngặt và chưa thể tự tiện dùng trực tiếp [1, 5, 8]. Purified colchicine chỉ cho thấy tác động bắt giữ phân bào trên một số dòng tế bào ung thư người (A549, MDA-MB231) ở nồng độ nhất định (60 nM) trong phòng thí nghiệm và cần nhiều nghiên cứu hơn trước khi xác lập giá trị điều trị [3]. Hoạt chất gloriosine phân lập từ rễ cây ngọt nghẹo cũng mới chỉ được thử nghiệm in vitro trên 15 dòng tế bào ung thư với IC50 từ 32,61 đến 100,28 nM, chưa hề có chỉ định sử dụng tự do trên người [7].
Ai cần tuyệt đối tránh xa và lưu ý y tế khẩn cấp
Tất cả mọi người, không phân biệt độ tuổi hay thể trạng, tuyệt đối không được nếm, ăn hoặc thử chế biến củ ngọt nghẹo dưới bất kỳ hình thức nào [2]. Đặc biệt, những đối tượng có sức đề kháng yếu như phụ nữ mang thai, trẻ em, người cao tuổi và người có bệnh nền gan thận sẽ có nguy cơ suy đa tạng và tử vong nhanh hơn khi nhiễm độc [2].
Nghiên cứu in vitro năm 2017 chỉ ra rằng việc bổ sung 50 g than hoạt (activated charcoal) vào môi trường dạ dày và ruột nhân tạo chứa dịch chiết ngọt nghẹo đã làm giảm lượng colchicine xuống mức không thể phát hiện (< 0,1 microgam/ml) [5]. Kết quả này cho thấy than hoạt tính có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ khử nhiễm cho bệnh nhân nhập viện cấp cứu sau khi ăn phải củ ngọt nghẹo [5].
Nếu phát hiện hoặc nghi ngờ bản thân hay người nhà đã ăn phải củ ngọt nghẹo, cần lập tức đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất có chuyên khoa chống độc. Không nên tự ý điều trị tại nhà bằng các bài thuốc dân gian vì thời gian trì hoãn sẽ làm tăng hấp thu colchicine vào máu, dẫn tới biến chứng ức chế tủy xương và suy đa tạng khó hồi phục [3, 7].






