Cảm giác tê bì, châm chích, nóng rát như kiến bò ở bàn chân là nỗi ám ảnh hàng ngày của nhiều người bệnh đái tháo đường típ 2. Khi đường huyết tăng cao kéo dài, các dây thần kinh ngoại biên dần bị tổn thương, gây đau đớn và làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống. Trước thực trạng này, axit alpha-lipoic (ALA) nổi lên như một chất bổ sung hỗ trợ thần kinh được rất nhiều người truyền tai nhau tìm mua.

Người bệnh đái tháo đường típ 2 có thể cân nhắc bổ sung axit alpha-lipoic, đặc biệt khi xuất hiện các triệu chứng tổn thương thần kinh ngoại biên [1], [2]. Dù vậy, bằng chứng khoa học ghi nhận hiệu quả rõ rệt nhất hiện nay đến từ đường truyền tĩnh mạch trong thời gian ngắn dưới sự giám sát y tế [1], trong khi đường uống cần thêm thời gian để đánh giá đầy đủ [1], [3]. Bổ sung ALA không thay thế được thuốc hạ đường huyết hay chế độ ăn uống do bác sĩ chỉ định.

Cơ chế tác động của axit alpha-lipoic đối với tế bào thần kinh

Biến chứng thần kinh là biến chứng mạch máu nhỏ nguy hiểm của bệnh đái tháo đường [1]. Tình trạng tăng đường huyết kéo dài kích thích ty thể sản sinh ồ ạt các gốc oxy hóa tự do, dẫn tới hiện tượng stress oxy hóa [1]. Quá trình này kích hoạt các con đường sinh học gây tổn hại cấu trúc vi mạch và phá hủy sợi thần kinh [1].

Các khiếm khuyết về chuyển hóa và mạch máu dưới tác động của stress oxy hóa đều liên quan trực tiếp đến tổn thương thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường [2]. Axit alpha-lipoic và dạng khử của nó là axit dihydrolipoic phát huy vai trò chống oxy hóa mạnh mẽ thông qua việc trung hòa nhiều loại gốc oxy phản ứng [2]. Hợp chất này còn ức chế các nguồn tạo gốc oxy hóa và hỗ trợ sửa chữa các tổn thương do chất oxy hóa gây ra [2].

Chính nhờ khả năng chống oxy hóa, ALA giúp cải thiện lưu lượng máu nuôi dưỡng dây thần kinh và thúc đẩy tái tạo tế bào [2]. Sự suy giảm các triệu chứng thần kinh có ý nghĩa lâm sàng ở người bệnh đái tháo đường phần lớn dựa vào đặc tính chống oxy hóa tự nhiên này [2].

Bằng chứng khoa học về hiệu quả giảm đau và tê bì thần kinh

Tác dụng của ALA trên biến chứng thần kinh ngoại biên đã được khảo sát kỹ lưỡng trong nhiều nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn.

Một phân tích gộp năm 2012 tổng hợp các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên sử dụng thang điểm tổng triệu chứng (TSS) cho thấy dùng ALA giúp giảm điểm TSS với độ chênh chuẩn gộp là -2,26 (khoảng tin cậy CI: -3,12 đến -1,41; P = 0,00001) [1]. Khi phân tích nhóm, truyền tĩnh mạch giảm -2,81 (CI: -4,16 đến -1,46; P = 0,0001) và đường uống giảm -1,78 (CI: -2,45 đến -1,10; P = 0,00001) [1]. Nghiên cứu kết luận truyền tĩnh mạch 600 mg/ngày trong 3 tuần giúp giảm đau thần kinh có ý nghĩa lâm sàng rõ rệt với mức độ khuyến cáo loại A [1]. Tuy nhiên, tác dụng lâm sàng sau 3-5 tuần uống liều trên 600 mg/ngày vẫn chưa thực sự rõ ràng [1].

Một phân tích gộp khác năm 2018 trên 4 thử nghiệm lâm sàng với 1.258 bệnh nhân (716 người dùng ALA và 542 người dùng giả dược) đã chứng minh hiệu quả tích cực của liều truyền tĩnh mạch 600 mg/ngày trong 3 tuần [2]. Sự khác biệt tương đối giữa thời điểm ban đầu và sau 3 tuần điều trị đạt 24,1% đối với thang điểm TSS và 16,0% đối với thang điểm khiếm khuyết thần kinh (NIS) [2]. Tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng điều trị (giảm từ 50% điểm TSS trở lên) ở nhóm dùng ALA đạt 52,7%, cao hơn hẳn mức 36,9% ở nhóm giả dược (P < 0,05) [2]. Nhóm điều trị ghi nhận giảm rõ rệt triệu chứng đau, nóng rát, dị cảm và tê bì [2].

Ngoài ra, phân tích gộp từ 15 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng cũng chỉ ra rằng truyền tĩnh mạch 300-600 mg/ngày ALA trong 2-4 tuần vượt trội hơn so với nhóm chứng trong việc tăng tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động và cảm giác ở cả dây thần kinh giữa và dây thần kinh mác [2].

Một đánh giá hệ thống năm 2016 khảo sát 27 thử nghiệm can thiệp bệnh thần kinh ngoại biên ở bàn chân cho thấy truyền tĩnh mạch 600 mg ALA giúp giảm điểm TSS -2,45 (95% CI: -4,52 đến -0,39, tổng hợp từ 3 thử nghiệm), trong khi uống 600 mg ALA giúp giảm -1,95 (95% CI: -2,89 đến -1,01, tổng hợp từ 2 thử nghiệm) [4]. Nghiên cứu khẳng định ALA cùng một số can thiệp khác đem lại kết quả có lợi đáng kể [4].

Tác động của axit alpha-lipoic đối với đường huyết và các biến chứng khác

Bên cạnh cải thiện cảm giác đau, một số nghiên cứu bước đầu ghi nhận ALA có thể hỗ trợ điều hòa đường huyết và chức năng thần kinh tự chủ.

Nghiên cứu công bố năm 1999 theo dõi 26 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có biến chứng thần kinh ngoại biên giai đoạn 2 được uống 600 mg ALA mỗi ngày trong 3 tháng [5]. Kết quả cho thấy 20 bệnh nhân (76,9%) đã thoái lui biến chứng thần kinh 1 giai đoạn (từ có triệu chứng sang không triệu chứng), và 5 bệnh nhân (19,2%) không còn dấu hiệu bệnh thần kinh [5]. Tốc độ dẫn truyền thần kinh của sợi vận động tăng từ 36,8 m/s lên 41,3 m/s (p = 0,049) [5]. Đường huyết trung bình của các bệnh nhân giảm đáng kể sau 3 tháng, từ 197,9 mg/dl xuống 162,2 mg/dl (p = 0,02) [5]. Phân tích đa biến ghi nhận phụ nữ, người gầy và người trẻ tuổi có xu hướng hưởng lợi nhiều hơn về cải thiện tốc độ dẫn truyền [5]. Tuy nhiên, việc tăng tốc độ dẫn truyền không phụ thuộc vào mức độ cải thiện đường huyết [5].

Năm 1997, thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm kiểm tra trên 328 bệnh nhân đái tháo đường không phụ thuộc insulin (NIDDM) bằng đường truyền tĩnh mạch các liều 1.200 mg, 600 mg, 100 mg ALA hoặc giả dược trong 19 ngày [6]. Điểm tổng triệu chứng TSS ở bàn chân và thang điểm đau Hamburg giảm rõ rệt ở liều 1.200 mg và 600 mg so với giả dược (P < 0,05) [6]. Cũng trong báo cáo này, một thử nghiệm khác trên bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng thần kinh tự chủ tim dùng đường uống 800 mg ALA mỗi ngày trong 4 tháng (39 người dùng ALA, 34 người dùng giả dược) [6]. Kết quả ghi nhận 2 trên 4 chỉ số biến thiên nhịp tim khi nghỉ ngơi được cải thiện đáng kể so với giả dược, mở ra tiềm năng điều trị biến chứng tim mạch [6].

Những hạn chế và sự mâu thuẫn trong các bằng chứng hiện có

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, các bằng chứng khoa học về ALA vẫn tồn tại những khoảng trống và kết quả chưa đồng nhất.

Thử nghiệm đa trung tâm ALADIN III năm 1999 thực hiện trên 509 bệnh nhân ngoại trú nhằm đánh giá liệu trình truyền 600 mg ALA/ngày trong 3 tuần, sau đó uống 600 mg 3 lần mỗi ngày trong 6 tháng [7]. Điểm TSS ở bàn chân giảm sau 19 ngày không đạt khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng ALA và nhóm giả dược (P = 0,447), dù diện tích dưới đường cong hàng ngày của nhóm dùng ALA nhỏ hơn có ý nghĩa (P = 0,033) [7]. Sau 7 tháng, sự thay đổi điểm TSS không khác nhau giữa các nhóm, có thể do sự biến thiên giữa các trung tâm nghiên cứu [7]. Điểm khiếm khuyết thần kinh NIS có giảm sau 19 ngày (P = 0,02 so với giả dược), nhưng hiệu quả duy trì sau 7 tháng chưa thực sự rõ rệt [7].

Nghiên cứu NATHAN 1 theo dõi việc uống ALA trong 4 năm cho thấy liệu pháp này có giá trị nhất định trong việc mang lại cải thiện lâm sàng và làm chậm nhẹ sự tiến triển của khiếm khuyết thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường mức độ nhẹ đến trung bình [8]. Dù vậy, các chuyên gia nhận định vẫn còn nhiều câu hỏi lớn cần giải đáp, nhất là tiêu chí chọn bệnh nhân phù hợp và thời gian điều trị tối ưu [8].

Đáng chú ý, một tổng quan hệ thống năm 2022 đánh giá 8 nghiên cứu trên 1.500 bệnh nhân đái tháo đường cho thấy kết quả còn thiếu nhất quán [3]. Chỉ có 3 thử nghiệm (37,5%) ghi nhận các cải thiện triệu chứng có ý nghĩa, trong khi 5 thử nghiệm (62,5%) không quan sát thấy kết quả rõ rệt nào [3]. Báo cáo kết luận bằng chứng ủng hộ việc dùng ALA giảm triệu chứng thần kinh vẫn còn hạn chế và cần thêm các thử nghiệm đối chứng lớn [3].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng axit alpha-lipoic

Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng ALA có thể chữa khỏi hoàn toàn tổn thương dây thần kinh đái tháo đường. Thực tế, các nghiên cứu chỉ ra rằng ALA chủ yếu hỗ trợ cải thiện các triệu chứng khó chịu như nóng rát, tê bì hoặc làm chậm tốc độ thoái hóa sợi thần kinh chứ không thể đảo ngược hoàn toàn tổn thương vĩnh viễn [2], [8].

Một hiểu lầm khác là tự ý mua viên uống ALA về dùng sẽ đạt ngay kết quả tức thì như trong các bài báo khoa học. Đa phần các kết quả giảm đau mạnh mẽ và nhanh chóng được ghi nhận trong y văn đều sử dụng phác đồ truyền tĩnh mạch liều cao tại bệnh viện [1], [2]. Tác dụng của đường uống thường khiêm tốn hơn, đòi hỏi thời gian dài hơn và cần thêm bằng chứng để khẳng định hiệu quả lâm sàng vững chắc [1], [3].

Những ai nên thận trọng trước khi sử dụng?

Dữ liệu lâm sàng ghi nhận ALA là một hoạt chất tương đối an toàn, dung nạp tốt và không có sự khác biệt về biến cố bất lợi nghiêm trọng so với giả dược trong các nghiên cứu ngắn hạn [2], [3], [6]. Tuy nhiên, người bệnh vẫn cần hết sức cẩn trọng.

Do ALA có khả năng làm giảm nồng độ đường huyết ở một số đối tượng [5], người bệnh đang sử dụng insulin hoặc thuốc hạ đường huyết đường uống cần theo dõi sát sao chỉ số đường huyết hàng ngày để phòng ngừa nguy cơ hạ đường huyết quá mức. Phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và bệnh nhân mắc các bệnh lý mạn tính đi kèm tuyệt đối không tự ý bổ sung nếu chưa có chỉ định của bác sĩ. Luôn trao đổi với bác sĩ chuyên khoa nội tiết trước khi bắt đầu bất kỳ sản phẩm bổ trợ nào.

Gợi ý cách áp dụng thực tế và an toàn

Nếu được bác sĩ đồng thuận cho phép sử dụng, người bệnh nên nắm rõ một số nguyên tắc áp dụng an toàn dựa trên kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng:

  • Liều lượng tham khảo: Các nghiên cứu đường uống thường khảo sát mức liều từ 600 mg đến 800 mg mỗi ngày [5], [4], [6]. Người bệnh không tự ý tăng liều vượt mức khuyến cáo để tránh nguy cơ tác dụng phụ không mong muốn.
  • Thời điểm dùng: Viên uống bổ sung nên được dùng theo đúng hướng dẫn trên nhãn hoặc chỉ định y khoa. Cần duy trì giờ uống đều đặn mỗi ngày để cơ thể duy trì nồng độ hoạt chất ổn định.
  • Kết hợp lối sống: Axit alpha-lipoic chỉ đóng vai trò hỗ trợ phụ trợ. Chìa khóa quan trọng nhất để ngăn chặn biến chứng thần kinh tiến triển vẫn là kiểm soát đường huyết ổn định, duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng, tập thể dục nhẹ nhàng đều đặn và kiểm tra bàn chân hàng ngày để phát hiện sớm các vết loét hay chấn thương.

Tóm lại, axit alpha-lipoic là hoạt chất chống oxy hóa giàu tiềm năng trong việc giảm bớt các triệu chứng tê đau thần kinh ngoại biên ở người đái tháo đường típ 2 [1], [2]. Dẫu vậy, hiệu quả lâm sàng của các chế phẩm đường uống vẫn còn những ý kiến trái chiều và bằng chứng còn giới hạn [3]. Người bệnh cần giữ cái nhìn khách quan, duy trì tuân thủ phác đồ điều trị chính và luôn tham vấn ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi sử dụng [5], [8].