Nhiều người khi đi khám sức khỏe tình cờ phát hiện có khối nhân nhỏ ở vùng cổ và ngay lập tức lo lắng không biết chế độ ăn uống hằng ngày có phải là thủ phạm. Câu hỏi phổ biến nhất tại phòng khám nội tiết là liệu có phải loại bỏ hoàn toàn muối i-ốt ra khỏi bữa ăn gia đình hay không. Tâm lý sợ khối u to lên khiến không ít người vội vã chuyển sang ăn muối nhạt hoặc muối không bổ sung vi chất.
Câu trả lời dựa trên các bằng chứng khoa học hiện tại là: người bị nhân tuyến giáp không cần và không nên kiêng hoàn toàn muối i-ốt nếu không có chỉ định đặc biệt từ bác sĩ điều trị. Việc cắt giảm i-ốt mù quáng thậm chí còn thúc đẩy mô tuyến giáp tăng sinh nhiều hơn.
Tuyến giáp và vi chất i-ốt: Mối liên hệ sinh học
Tuyến giáp cần vi chất i-ốt để tổng hợp hormone điều hòa chuyển hóa năng lượng cho toàn bộ cơ thể [1]. Khi cơ thể không nhận đủ lượng i-ốt cần thiết, nồng độ hormone giáp suy giảm tạm thời, kích thích tuyến yên tăng cường tiết hormone TSH (Thyroid-Stimulating Hormone) nhằm mục đích tối đa hóa khả năng hấp thu i-ốt từ máu [2].
TSH tăng cao kéo dài sẽ kích hoạt quá trình phì đại và tăng sinh tế bào tuyến giáp [2]. Qua thời gian, quá trình tăng sinh bất thường này dẫn tới hình thành các nhân giáp, trong đó nhiều nhân xuất phát từ đột biến soma tế bào dạng đơn dòng [2]. Như vậy, thiếu hụt i-ốt chính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của các khối nhân này [1, 3].
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa i-ốt và bệnh lý tuyến giáp không đi theo đường thẳng đơn giản mà phức tạp hơn nhiều. Trong khi cơ chế thúc đẩy nhân giáp do thiếu hụt vi chất đã được làm rõ, tác động sinh học của tình trạng thừa i-ốt lên sự hình thành nhân giáp vẫn còn nhiều điểm chưa sáng tỏ [2].
Dữ liệu dịch tễ: Thiếu hay thừa i-ốt đáng lo ngại hơn?
Để trả lời câu hỏi liệu kiêng i-ốt có giúp teo nhân giáp hay không, các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu trên diện rộng. Một phân tích tổng quan hệ thống và gộp công bố năm 2025 gồm 31 nghiên cứu đã đánh giá mối liên quan giữa lượng i-ốt nạp vào và nguy cơ mắc nhân tuyến giáp [1]. Trong số 8 nghiên cứu đánh giá tỷ suất chênh (OR), có 5 nghiên cứu xác định thiếu i-ốt (nồng độ i-ốt niệu UIC < 100 µg/L) là yếu tố nguy cơ đáng kể [1]. Kết quả phân tích gộp chỉ ra tình trạng thiếu i-ốt làm tăng nguy cơ mắc nhân giáp với OR là 1,24 (khoảng tin cậy 95% CI: 1,16 - 1,33) [1]. Ngược lại, dữ liệu đối với mức nạp thừa i-ốt (> 200 µg/L và > 300 µg/L) không cho thấy mối liên hệ đồng nhất [1].
Tại Chiết Giang (Trung Quốc), một nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 2.710 người trưởng thành ghi nhận tỷ lệ hiện mắc nhân tuyến giáp là 15,5% [3]. Kết quả phân tích đa biến cho thấy nhóm người có i-ốt niệu mức 200 - 399 µg/L giảm 37% đến 57% nguy cơ mắc nhân giáp so với nhóm thiếu i-ốt (< 100 µg/L) [3]. Ở mức i-ốt niệu 100 - 199 µg/L, nguy cơ mắc nhân giáp cũng giảm rõ rệt với OR = 0,75 (95% CI: 0,58 - 0,97) [3].
Đặc biệt, nghiên cứu này chứng minh việc sử dụng muối i-ốt giúp giảm 69% đến 77% nguy cơ hình thành nhân tuyến giáp so với việc dùng muối không có i-ốt [3]. Ngược lại, những người có nồng độ i-ốt niệu quá thấp hoặc tiêu thụ muối không i-ốt đều có nguy cơ mắc nhân giáp cao hơn [3].
Tại một nghiên cứu đoàn hệ khám sức khỏe quy mô lớn ở Trung Quốc năm 2021, các chuyên gia lưu ý rằng chương trình phổ cập muối i-ốt toàn dân từ năm 1995 đã làm giảm mạnh bệnh bướu cổ lan tỏa [4]. Mặc dù tỷ lệ phát hiện nhân giáp và ung thư giáp ghi nhận tăng trong cùng giai đoạn, các bằng chứng khoa học xác định i-ốt là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự gia tăng này vẫn chưa đi đến kết luận thống nhất [4].
Tác động của vi chất lên kích thước khối u và nguy cơ ác tính
Mối bận tâm lớn nhất của người có nhân giáp là liệu nồng độ i-ốt có làm tăng kích thước khối nhân hoặc hóa ung thư hay không. Một nghiên cứu trên 2.041 bệnh nhân đã đánh giá mối liên hệ giữa nồng độ i-ốt niệu và các đặc điểm bệnh học [5]. Kết quả ghi nhận ở bệnh nhân nữ mắc ung thư tuyến giáp thể nhú, mức i-ốt nạp vào cao hơn nhu cầu (UIC 200 - 299 µg/L) có liên quan độc lập đến nguy cơ tăng kích thước khối u lớn hơn (OR 1,33, P = 0,002) [5]. Tuy nhiên, nghiên cứu này không phát hiện sự khác biệt đáng kể về nồng độ i-ốt niệu giữa nhóm nhân giáp lành tính và nhóm ung thư tuyến giáp thể nhú, cho thấy i-ốt cao có thể liên quan tới sự phát triển khối u nhưng không phải yếu tố khởi phát sinh ung thư [5].
Nghiên cứu hồi cứu trên 1.170 bệnh nhân có nhân giáp tại một vùng đủ i-ốt cho thấy nồng độ i-ốt niệu trung vị là 360 µg/L, trong đó 56% bệnh nhân thuộc nhóm nạp thừa i-ốt (UIC ≥ 300 µg/L) [6]. Đáng chú ý, phân tích hồi quy đa biến cho thấy nguy cơ ung thư giáp tăng lên ở cả nhóm có mức nạp i-ốt tương đối thấp (UIC < 300 µg/L, OR 1,519; 95% CI: 1,099 - 2,098) lẫn nhóm thừa i-ốt cực độ (UIC ≥ 2.500 µg/L, OR 1,874; 95% CI: 1,094 - 3,208) khi so sánh với nhóm nạp 300 - 2.499 µg/L [6]. Điều này phản ánh nguy cơ gia tăng ở hai thái cực thiếu hụt hoặc thừa quá mức [6].
Một nghiên cứu khác so sánh 154 bệnh nhân nhân tuyến giáp với 306 người đối chứng khỏe mạnh ghi nhận nồng độ trung vị i-ốt niệu ở người có nhân giáp lành tính là 331,33 µg/L và ở ung thư thể nhú là 466,23 µg/L, cao hơn rõ rệt so với mức 174,30 µg/L ở nhóm chứng [7]. Trạng thái thừa i-ốt (i-ốt niệu > 300 µg/L) xuất hiện ở 62,75% ca nhân giáp lành tính và 66,99% ca ung thư, cao hơn hẳn tỷ lệ 19,93% ở nhóm khỏe mạnh [7].
Về mặt tổn thương mô học, một phân tích gộp từ 14 nghiên cứu bệnh chứng và đoàn hệ hồi cứu ghi nhận nguy cơ ung thư tuyến giáp ở người có bướu đa nhân thấp hơn đáng kể so với người chỉ có đơn nhân giáp (OR 0,8; 95% CI: 0,67 - 0,96) [8]. Lợi thế này thấy rõ tại các khu vực đủ i-ốt (OR 0,77; 95% CI: 0,65 - 0,92), trong khi tại các vùng thiếu i-ốt nhẹ thì không thấy sự khác biệt đáng kể (OR 0,88; 95% CI: 0,68 - 1,14) [8].
Giới hạn của bằng chứng và các yếu tố chuyển hóa đi kèm
Mặc dù nhiều số liệu dịch tễ cho thấy mối liên quan giữa i-ốt và bệnh lý tuyến giáp, phần lớn các công trình hiện nay (chẳng hạn 23 trong số 31 nghiên cứu của phân tích gộp năm 2025) là nghiên cứu cắt ngang [1]. Thiết kế này chỉ phản ánh mối tương quan tại một thời điểm, chưa thể chứng minh quan hệ nhân quả tuyệt đối rằng việc thừa hay thiếu i-ốt trực tiếp gây đột biến [1].
Bên cạnh vi chất, kích thước và sự xuất hiện của nhân tuyến giáp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ chuyển hóa toàn thân. Nghiên cứu năm 2021 chỉ ra rằng nữ giới có nguy cơ mắc nhân giáp cao gấp 2,2 lần nam giới, đồng thời thời kỳ mang thai cũng liên quan đến việc hình thành nhân giáp mới và làm tăng kích thước nhân hiện có do tác động của hormone nội tiết như estrogen và progesterone [4].
Ngoài ra, các yếu tố chuyển hóa khác đóng vai trò quan trọng không kém: chỉ số khối cơ thể (BMI) cao, béo phì trung tâm, đường huyết lúc đói tăng cao, huyết áp cao, axit uric và rối loạn lipid máu (bao gồm triglyceride, HDL, LDL) đều là những yếu tố nguy cơ độc lập thúc đẩy nhân tuyến giáp phát triển [4]. Do đó, việc chỉ tập trung kiêng khem vi chất mà bỏ quên việc kiểm soát cân nặng, mỡ máu và đường huyết là một sai lầm phổ biến.
Hiểu lầm thường gặp và nhóm người cần thận trọng
Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng cắt bỏ hoàn toàn muối i-ốt sẽ giúp "bỏ đói" khối u, làm khối nhân xơ tiêu biến. Thực tế, khi cơ thể rơi vào tình trạng thiếu i-ốt, hormone TSH sẽ tăng vọt để kích thích tuyến giáp làm việc, gián tiếp kích thích khối nhân tăng thể tích nhanh hơn [2].
Tuy nhiên, người bệnh cũng không nên bổ sung vi chất quá mức. Những trường hợp cần thận trọng đặc biệt bao gồm:
- Người bệnh chuẩn bị bước vào liệu trình điều trị hoặc chụp xạ hình bằng i-ốt phóng xạ (I-131): Cần tuân thủ chế độ kiêng i-ốt nghiêm ngặt theo hướng dẫn trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa y học hạt nhân để tăng hấp thu phóng xạ.
- Người có nhân giáp đi kèm tình trạng cường giáp, bướu nhân độc tự chủ hoặc bệnh lý tự miễn hoạt động: Nạp quá nhiều vi chất có thể kích hoạt các đợt bùng phát rối loạn chức năng tuyến giáp.
- Phụ nữ có nhân giáp được chẩn đoán ung thư dạng nhú: Một số bằng chứng cho thấy mức nạp i-ốt cao hơn nhu cầu có thể kích thích khối u tiến triển về kích thước [5].
Gợi ý chế độ ăn uống và sinh hoạt khoa học
Người được chẩn đoán nhân xơ hoặc nhân tuyến giáp lành tính nên duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng theo các nguyên tắc sau:
- Dùng muối i-ốt bình thường trong chế biến món ăn hằng ngày: Không cần thay thế bằng muối không i-ốt, bởi dùng muối i-ốt giúp giảm 69-77% nguy cơ tiến triển nhân giáp [3]. Tổng lượng muối nạp vào cơ thể nên giữ ở mức hợp lý (dưới 5g muối/ngày theo khuyến cáo chung) để bảo vệ huyết áp và tim mạch [4].
- Không tự ý uống các viên bổ sung vi chất i-ốt liều cao: Tránh xa các sản phẩm thực phẩm chức năng chứa i-ốt đậm đặc hoặc tảo biển sấy khô nồng độ cao nếu không có chỉ định y khoa, tránh đẩy nồng độ i-ốt niệu lên ngưỡng cực độ (≥ 2.500 µg/L) gây tăng nguy cơ ác tính [6].
- Kiểm soát chuyển hóa: Giữ cân nặng hợp lý, tập thể dục thường xuyên để cải thiện độ nhạy insulin, kiểm soát chỉ số đường huyết, huyết áp và mỡ máu [4].
Người bệnh nên tái khám định kỳ mỗi 6 - 12 tháng bằng siêu âm tuyến giáp và xét nghiệm chức năng tuyến giáp. Việc điều chỉnh chế độ ăn đặc biệt cần được thảo luận kỹ lưỡng với bác sĩ điều trị dựa trên kết quả sinh thiết mô học và xét nghiệm máu cụ thể.







