Nước ion kiềm được quảng cáo rầm rộ với công dụng trung hòa axit, thải độc và bảo vệ thận. Nhiều người sẵn sàng chi hàng chục triệu đồng lắp máy lọc nước kiềm với hy vọng phòng ngừa suy thận.

Thực tế, không có bằng chứng khoa học đáng tin cậy nào trên người chứng minh nước ion kiềm bảo vệ được chức năng thận. Việc nhầm lẫn giữa điều trị toan chuyển hóa trong bệnh viện và uống nước kiềm tại nhà khiến công dụng của loại nước này bị phóng đại quá mức.

Cơ chế giữ cân bằng toan kiềm của cơ thể

Cơ thể người trưởng thành tạo ra khoảng 1 mmol axit trên mỗi kilôgam trọng lượng mỗi ngày từ quá trình chuyển hóa thức ăn, chủ yếu là đạm [1]. Ở trẻ em, con số này lên tới khoảng 3 mmol axit trên mỗi kilôgam cân nặng mỗi ngày [1]. Để giữ pH máu ổn định, cơ thể dựa vào phổi, hệ đệm bicacbonat và thận.

Thận đóng vai trò đào thải axit nội sinh và tái hấp thu lượng bicacbonat đã tiêu hao [2]. Quá trình đào thải axit qua thận chủ yếu diễn ra dưới dạng amoni và dihydro photphat [2]. Người khỏe mạnh có hệ thống đệm tự nhiên kiểm soát liên tục. Mọi lượng nước kiềm đi qua dạ dày đều bị axit dạ dày trung hòa trước khi xuống ruột, không thể làm thay đổi độ pH của dòng máu.

Toan chuyển hóa chỉ xuất hiện khi khả năng đào thải axit của thận suy giảm nặng hoặc khi mất kiềm quá mức [3]. Khi các đơn vị thận bị suy thoái, lượng amoniac sản xuất trên mỗi đơn vị thận còn lại phải tăng lên để bù trừ, kích hoạt hệ thống bổ thể gây viêm mô kẽ và xơ hóa thận tiến triển [1].

Tình trạng toan chuyển hóa trong bệnh thận mạn

Toan chuyển hóa được chẩn đoán lâm sàng khi nồng độ bicacbonat trong máu giảm xuống dưới 22 mmol/l (hoặc 22 mEq/L) [2, 3, 6]. Tình trạng tích tụ ion H+ thực tế đã xuất hiện từ trước khi nồng độ bicacbonat huyết thanh giảm rõ rệt, gọi là tình trạng toan máu tiềm ẩn hay toan máu có bicacbonat bình thường [2].

Mức độ toan chuyển hóa tăng dần theo độ suy giảm chức năng lọc của thận [6, 8]. Tỷ lệ toan chuyển hóa ở mức 2% khi mức lọc cầu thận (GFR) từ 1,0 đến 1,5 ml/s/1,73 m2, tăng lên 19% khi GFR ở mức 0,25 đến 0,3 ml/s/1,73 m2, và chạm mốc 39% ở người có GFR dưới 0,3 ml/s/1,73 m2 [1]. Tỷ lệ mắc toan chuyển hóa ghi nhận vào khoảng 40% ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 4 [2].

Ở bệnh nhân sau ghép thận, tỷ lệ mắc toan chuyển hóa dao động từ 12% đến 58% [4]. Một quả thận duy nhất thường không đủ khả năng bài tiết lượng axit hàng ngày, cộng với độc tính trên ống thận từ các thuốc ức chế miễn dịch ức chế calcineurin [2, 3]. Hậu quả của toan chuyển hóa rất nặng nề: teo cơ, hủy khoáng xương, ức chế tạo vitamin D, kháng insulin, xơ hóa thận và tăng nguy cơ mất mảnh ghép tử vong [1, 2, 8].

Nghiên cứu khoa học nói gì về bù kiềm?

Các thử nghiệm y khoa dùng kiềm để làm chậm suy thận thực chất dùng muối natri bicacbonat dược dụng, không phải nước ion kiềm đóng chai hay máy lọc nước gia đình.

Nghiên cứu của các tác giả năm 2009 trên mô hình động vật đánh giá nước ion kiềm trong xử lý toan chuyển hóa cấp [3]. Thử nghiệm chia làm hai mô hình trên chó và chuột: mô hình suy thận do thắt niệu quản hai bên và mô hình toan chuyển hóa do dẫn lưu nước tiểu vào ruột [3]. Kết quả cho thấy nhóm suy thận lọc máu bằng dịch pha từ nước kiềm cải thiện cân bằng kiềm toan tốt hơn lọc máu bằng nước thẩm thấu ngược RO [3]. Nhóm dẫn lưu nước tiểu uống nước kiềm có áp lực riêng phần CO2 và bicacbonat huyết thanh cải thiện có ý nghĩa thống kê (P = 0,007 và P = 0,001) so với uống nước máy [3]. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu động vật với bệnh lý tạo nhân tạo, chưa thể suy diễn trên người [3].

Năm 2018, đề cương thử nghiệm Preserve-Transplant được công bố, tiến hành mù bệnh nhân, đa trung tâm, ngẫu nhiên có đối chứng pha 4 nhằm so sánh natri bicacbonat đường uống với giả dược trên người ghép thận [5]. Mục tiêu chính là đánh giá sự thay đổi mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) sau 2 năm [5].

Các tổng quan năm 2010 và 2021 từng ghi nhận việc dùng natri bicacbonat giúp duy trì chức năng thận, làm chậm suy thận và cải thiện dinh dưỡng dựa trên một số nghiên cứu mở [6, 7]. Tuy nhiên, các phân tích cập nhật năm 2024 chỉ ra rằng các thử nghiệm lâm sàng mù đôi, đối chứng nghiêm ngặt gần đây không còn ghi nhận lợi ích rõ rệt của liệu pháp bù kiềm đối với tiến trình suy thận mạn [6].

Thuốc veverimer, một chất gắn axit clohydric trong đường tiêu hóa không chứa natri, cũng thất bại trong thử nghiệm lớn đa trung tâm khi không làm giảm được tỷ lệ tử vong do thận, suy thận giai đoạn cuối hay mức giảm 40% eGFR [6]. Do đó, hướng dẫn điều trị của KDIGO sắp tới đang hạ mức khuyến cáo thường quy liệu pháp kiềm hóa xuống mức điểm thực hành [6].

Hiểu lầm phổ biến về nước ion kiềm

Hiểu lầm lớn nhất là đánh đồng nước ion kiềm với dung dịch kiềm y tế. Các hướng dẫn bệnh thận mạn đề cập tới việc bù kiềm bằng viên natri bicacbonat khi bicacbonat máu dưới 22 mmol/l dưới sự theo dõi của bác sĩ [2, 6]. Nước uống ion kiềm từ máy lọc gia đình có hàm lượng khoáng và độ kiềm rất thấp, không có giá trị thay thế thuốc trị toan máu.

Một ngộ nhận khác là uống nước kiềm giúp máu có tính kiềm để ngừa bệnh tật. Độ pH của máu người khỏe mạnh luôn được kiểm soát chặt chẽ trong khoảng sinh lý hẹp 7,35 - 7,45. Thận và phổi đảm nhận toàn bộ việc này mà không phụ thuộc vào độ kiềm của nước uống. Uống nước kiềm không làm thay đổi pH máu của người có chức năng thận bình thường.

Ai nên thận trọng khi dùng nước kiềm?

Người mắc bệnh thận mạn, đặc biệt từ giai đoạn 3 trở lên, cần thận trọng trước các loại nước khoáng kiềm giàu natri, kali hoặc canxi. Việc nạp thêm các ion này không kiểm soát qua nước uống có thể gây tăng kali máu, tăng huyết áp hoặc quá tải tuần hoàn.

Người bị suy tim, người đang dùng thuốc chẹn thụ thể hoặc thuốc ức chế men chuyển cần hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa thận trước khi sử dụng các thiết bị tạo nước ion kiềm kéo dài.

Người có chức năng tiêu hóa kém, người cao tuổi giảm tiết axit dạ dày không nên uống nước kiềm ngay trước hoặc trong bữa ăn vì có thể làm loãng dịch vị, cản trở tiêu hóa thức ăn.

Cách chăm sóc thận đúng khoa học

Để bảo vệ chức năng thận, việc tuân thủ chế độ sinh hoạt lành mạnh có giá trị thực tế hơn nhiều so với việc tìm kiếm các loại nước kiềm đắt tiền:

  • Uống đủ nước sạch thông thường: Duy trì lượng nước tiểu đều đặn mỗi ngày, ưu tiên nước đun sôi để nguội hoặc nước lọc tiêu chuẩn.
  • Ăn giảm muối: Giảm gánh nặng thải natri cho cầu thận, kiểm soát huyết áp ổn định.
  • Cân đối lượng đạm: Hạn chế ăn quá nhiều đạm động vật vì chuyển hóa đạm sinh ra axit nội sinh [1]; tăng cường rau xanh và trái cây tươi.
  • Thận trọng khi dùng thuốc: Tránh tự ý dùng thuốc giảm đau kháng viêm không steroid (NSAID), kiểm tra chức năng thận định kỳ nếu có bệnh đái tháo đường hoặc tăng huyết áp.

Nước ion kiềm không phải là giải pháp bảo vệ thận như các lời quảng cáo thương mại. Đối với người khỏe mạnh, hệ thống thận và hô hấp tự điều hòa cân bằng toan kiềm ổn định. Người bệnh thận cần tuân theo chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa thay vì tự ý dùng nước kiềm.