Ở ba tháng cuối thai kỳ, nhiều thai phụ thường xuyên phải đối mặt với cảm giác nóng rát vùng ngực, đắng miệng hoặc dịch vị trào ngược lên cổ họng mỗi khi ăn no hay nằm nghỉ. Triệu chứng ợ nóng này không chỉ gây khó chịu trong sinh hoạt hằng ngày mà còn làm gián đoạn giấc ngủ của người mẹ. Nhiều người băn khoăn liệu tình trạng này có phải là dấu hiệu bất thường và làm thế nào để ăn uống hợp lý nhằm giảm bớt sự khó chịu.
Câu trả lời nằm ở sự thay đổi giải phẫu học và sinh lý tự nhiên của cơ thể khi thai nhi phát triển lớn. Việc lựa chọn đúng nhóm thực phẩm, giảm bớt chất béo không bão hòa đa, hạn chế đồ cay nóng và bổ sung rau xanh hợp lý sẽ giúp giảm thiểu đáng kể áp lực acid trào ngược lên thực quản.
Áp lực cơ học và cơ chế gây ợ nóng cuối thai kỳ
Trong giai đoạn tam cá nguyệt thứ ba, tử cung mở rộng kích thước tối đa để tạo không gian cho sự phát triển của thai nhi. Sự gia tăng thể tích này tạo nên một lực ép cơ học trực tiếp từ dưới ổ bụng đẩy ngược lên cơ hoành và đáy dạ dày. Dạ dày bị thu hẹp thể tích chứa đựng, khiến áp lực nội dạ dày tăng cao ngay cả khi lượng thức ăn nạp vào không quá lớn.
Bên cạnh yếu tố cơ học, sự thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ cũng được cho là tác động làm giãn cơ thắt thực quản dưới và làm chậm quá trình làm rỗng của dạ dày [1]. Khi cơ thắt này suy yếu cộng với áp lực đẩy từ khoang bụng bên dưới, dịch vị acid và thức ăn chưa tiêu hóa hết rất dễ bị tống ngược lên thực quản, gây cảm giác nóng rát đặc trưng [1, 3]. Tình trạng ợ nóng là triệu chứng phổ biến, có thể ảnh hưởng tới hơn 2/3 phụ nữ mang thai hoặc lên tới 80% thai phụ trong ba tháng cuối [1]. Mặc dù phổ biến, các biến chứng nghiêm trọng do tình trạng này gây ra là rất hiếm gặp [1].
Tỷ lệ xuất hiện triệu chứng ợ nóng qua các nghiên cứu
Các bằng chứng khoa học cho thấy sự phổ biến của các rối loạn tiêu hóa này trong thai kỳ. Một nghiên cứu theo dõi tiến cứu trên 64 thai phụ từ ba tháng đầu cho tới khi sinh tại một phòng khám sản khoa ghi nhận có tới 83,4% (50 người) từng trải qua triệu chứng ợ nóng hoặc trào ngược thức ăn trong suốt thai kỳ [2]. Hiện tượng trào ngược xuất hiện nhiều hơn ở phụ nữ mang thai con so (69,3%), và có 50% thai phụ vẫn tiếp tục xuất hiện triệu chứng này cho tới ngày sinh [2]. Nghiên cứu cũng chỉ ra trào ngược thức ăn xảy ra phổ biến hơn chứng ợ nóng và thường đi kèm với cảm giác buồn nôn hoặc nôn [2]. Đặc biệt, những thai phụ có tiền sử bệnh trào ngược dạ dày thực quản trước đó có nguy cơ khởi phát triệu chứng ở ba tháng cuối cao gấp 3,79 lần [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu này ghi nhận tỷ lệ mắc mới nhìn chung giảm dần qua ba tam cá nguyệt và mức độ tăng cân không làm gia tăng tỷ lệ mắc chứng trào ngược [2].
Ở một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu khác công bố năm 2022 trên 200 phụ nữ mang thai, tỷ lệ hiện diện của triệu chứng ợ nóng tăng lên rõ rệt theo tuổi thai và đạt đỉnh điểm cao nhất ở ba tháng cuối thai kỳ với 33% số người tham gia khảo sát báo cáo có triệu chứng [3]. Trong nghiên cứu này, các tác giả nhận thấy việc kết hợp giữa lượng chất xơ thấp và lượng chất lỏng nạp vào thấp làm tăng nguy cơ táo bón trong thai kỳ lên 5,9 lần (khoảng tin cậy 95%: 2,00 - 17,4) [3].
Các loại chất béo và thực phẩm ảnh hưởng tới triệu chứng trào ngược
Chế độ ăn đóng vai trò quan trọng đối với tần suất xuất hiện cơn ợ nóng. Một nghiên cứu tiến cứu năm 2010 được thực hiện trên 89 thai phụ ở tuần thai trung bình 34 (± 4 tuần) nhằm đánh giá mối liên quan giữa chất béo trong khẩu phần và triệu chứng trào ngược [4]. Trong số này, 63% (56 người) bị ợ nóng với tần suất từ một lần mỗi tuần trở lên [4]. Khẩu phần ăn được ghi nhận qua nhật ký dinh dưỡng 24 giờ và so sánh giữa nhóm có triệu chứng với nhóm 20 thai phụ không có triệu chứng [4].
Kết quả cho thấy lượng chất béo không bão hòa đa nạp vào ở nhóm thai phụ bị ợ nóng cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng, với mức 11,2 ± 6,4 mg so với 7,7 ± 3,5 mg (chỉ số p = 0,022), sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố về tuổi, mức tăng cân thai kỳ, lượng caffeine, vitamin C và tổng năng lượng tiêu thụ [4]. Lượng axit béo không bão hòa đơn cũng có xu hướng cao hơn ở nhóm bị ợ nóng (16,1 ± 11 mg so với 11,8 ± 6,5 mg), dù mức ý nghĩa thống kê nằm ở ranh giới (p = 0,061) [4]. Đáng chú ý, nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan nào giữa lượng chất béo tiêu thụ với hiện tượng trào ngược thức ăn [4].
Ngoài chất béo, tính chất cay nóng của món ăn cũng là tác nhân kích thích mạnh. Dữ liệu từ nghiên cứu năm 2014 khẳng định thức ăn cay làm gia tăng đáng kể nguy cơ ợ nóng ở thai phụ [2]. Ngược lại, việc tiêu thụ các loại rau xanh được ghi nhận mang lại tác dụng bảo vệ, giúp giảm thiểu nguy cơ phát triển triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản [2].
Một nghiên cứu tiến cứu nhỏ năm 1989 trên 50 phụ nữ mang thai ở tam cá nguyệt thứ nhất và thứ ba cũng từng ghi nhận thói quen ăn uống liên quan tới các khó chịu thai kỳ [5]. Kết quả chỉ ra việc tiêu thụ ít hoặc không tiêu thụ các sản phẩm từ sữa có mối tương quan với tình trạng ợ nóng [5]. Đồng thời, lượng trái cây họ cam quýt tiêu thụ ít hoặc không tiêu thụ kết hợp với việc uống viên bổ sung sắt và vitamin có mối tương quan với các triệu chứng ợ nóng, táo bón và khó ngủ [5]. Dù vậy, nghiên cứu này có cỡ mẫu hạn chế và cần được nhìn nhận một cách thận trọng [5].
Bằng chứng về can thiệp điều trị chứng ợ nóng trong thai kỳ
Khi các biện pháp điều chỉnh chế độ ăn không mang lại hiệu quả đầy đủ, thai phụ thường tìm kiếm sự trợ giúp từ y tế. Một tổng quan hệ thống của Cochrane năm 2014 đã tìm kiếm các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của những can thiệp điều trị ợ nóng cho phụ nữ mang thai [1].
Tổng quan chỉ tìm được 3 nghiên cứu đủ điều kiện với tổng cộng 286 phụ nữ tham gia [1]. Cả 3 nghiên cứu đều là thử nghiệm đối chứng với giả dược, đánh giá các loại thuốc khác nhau bao gồm tiêm bắp prostigmine, thuốc kháng acid (antacid), và phối hợp thuốc kháng acid với ranitidine [1]. Mặc dù cả 3 thử nghiệm đều cho kết quả tích cực nghiêng về nhóm dùng thuốc can thiệp, dữ liệu không thể gộp lại để đưa ra một kết luận định lượng chung về hiệu quả điều trị do sự khác biệt trong thiết kế [1]. Các tác giả kết luận rằng hiện có rất ít thông tin khoa học đầy đủ để đưa ra kết luận chắc chắn về hiệu quả tổng thể của các can thiệp trị ợ nóng trong thai kỳ [1].
Hiểu lầm thường gặp về ợ nóng ở mẹ bầu
Một hiểu lầm khá phổ biến là cho rằng việc tăng cân quá nhiều trong thai kỳ là nguyên nhân chính gây ra chứng trào ngược dạ dày thực quản. Tuy nhiên, dữ liệu theo dõi lâm sàng chỉ ra rằng không có sự khác biệt về mức tăng cân giữa những thai phụ có và không có triệu chứng trào ngược [2]. Tác nhân hàng đầu vẫn xuất phát từ sự chèn ép cơ học nội tại của tử cung và sự nhạy cảm của hệ tiêu hóa với các thành phần thực phẩm [1, 2, 3].
Nhiều người cũng nghĩ rằng đã bị ợ nóng thì bắt buộc phải kiêng hoàn toàn mọi chất béo. Trên thực tế, nghiên cứu chỉ ra mối liên quan rõ nét nhất nằm ở lượng tiêu thụ chất béo không bão hòa đa cao trong các bữa ăn hằng ngày [4]. Việc điều chỉnh cấu trúc chất béo hợp lý thay vì cắt bỏ cực đoan mới là cách tiếp cận khoa học.
Những đối tượng thai phụ cần đặc biệt thận trọng
Những thai phụ có tiền sử mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản trước khi mang thai cần chuẩn bị sẵn phương án ứng phó, bởi họ có nguy cơ tái phát triệu chứng ở ba tháng cuối cao gấp 3,79 lần so với người bình thường [2]. Nhóm mang thai con so cũng cần lưu ý vì tỷ lệ xuất hiện trào ngược được ghi nhận cao hơn rõ rệt (69,3%) [2].
Phụ nữ mang thai không nên tự ý tìm mua các loại thuốc kháng acid, thuốc kháng histamin hay thuốc ức chế bơm proton khi chưa có chỉ định y khoa, do bằng chứng chắc chắn về độ an toàn và hiệu quả của các can thiệp này vẫn còn hạn chế [1]. Khi xuất hiện triệu chứng ợ nóng kèm theo nôn nhiều, sụt cân, khó nuốt hoặc đau tức ngực dữ dội, thai phụ cần tới cơ sở y tế để được thăm khám, loại trừ các bệnh lý nguy hiểm khác.
Hướng dẫn chế độ ăn thực tế giảm áp lực dạ dày
Để kiểm soát chứng ợ nóng trong những tháng cuối, việc thay đổi lối sống và cách lựa chọn thực phẩm đóng vai trò then chốt:
- Ưu tiên rau xanh trong thực đơn mỗi ngày: Bổ sung đa dạng các loại rau xanh vào bữa ăn chính giúp bảo vệ dạ dày trước nguy cơ trào ngược [2].
- Kiểm soát lượng chất béo không bão hòa đa: Hạn chế các món chiên xào nhiều dầu thực vật tinh luyện chứa lượng lớn axit béo không bão hòa đa, bởi nhóm chất béo này liên quan đến sự gia tăng tần suất ợ nóng [4].
- Tránh thực phẩm cay nóng: Đồ ăn chứa ớt, hạt tiêu cay làm tăng đáng kể nguy cơ xuất hiện cơn ợ nóng và cần được loại bỏ khỏi thực đơn cuối thai kỳ [2].
- Bổ sung đủ nước và chất xơ: Duy trì lượng chất xơ và nước uống đầy đủ mỗi ngày giúp hạn chế táo bón thai kỳ, từ đó giảm bớt gánh nặng áp lực ổ bụng dồn lên hệ tiêu hóa [3].
- Chia nhỏ bữa ăn: Thai phụ nên chia khẩu phần thành 5-6 bữa nhỏ trong ngày thay vì ăn 3 bữa quá no, giúp giảm tải thể tích cho dạ dày đang bị tử cung chèn ép.
Ợ nóng trong ba tháng cuối thai kỳ là hiện tượng sinh lý phổ biến do sự phối hợp giữa áp lực cơ học từ tử cung và sự thay đổi nội tiết tố [1, 3]. Việc điều chỉnh chế độ ăn uống khoa học bằng cách tăng cường rau xanh, cắt giảm đồ cay và hạn chế lượng chất béo không bão hòa đa sẽ giúp mẹ bầu giảm bớt khó chịu [1, 2]. Khi các triệu chứng kéo dài hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng tới sinh hoạt, thai phụ nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn điều trị an toàn, phù hợp.






