Khi bước vào thai kỳ, hầu hết phụ nữ đều lo lắng về việc bổ sung vi chất sao cho thai nhi phát triển khỏe mạnh và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm. Bên cạnh sắt, canxi hay axit folic, nhiều mẹ bầu băn khoăn liệu có nên mua thêm viên uống selen riêng biệt để dùng hàng ngày hay không. Đây là thắc mắc hoàn toàn thực tế khi các sản phẩm bổ sung đơn chất ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường.
Câu trả lời ngắn gọn là: Mẹ bầu khỏe mạnh không nên tự ý uống bổ sung selen riêng biệt nếu chưa có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Dù selen giữ vai trò bảo vệ cơ thể trước các phản ứng oxy hóa, các dữ liệu lâm sàng hiện nay vẫn cho thấy bằng chứng chưa đồng nhất để khuyến cáo dùng riêng đại trà cho mọi phụ nữ có thai [1]. Việc ăn uống đủ chất thường đã đáp ứng đủ nhu cầu khoáng chất thiết yếu này.
Vai trò của selen đối với cơ thể mẹ bầu
Selen là một khoáng chất vi lượng thiết yếu đóng vai trò trung tâm trong hệ thống phòng thủ chống oxy hóa nội sinh của cơ thể [1]. Trong thai kỳ, tình trạng stress oxy hóa gia tăng có liên quan mật thiết đến các kết cục bất lợi cho cả mẹ và thai nhi [1]. Selen tham gia cấu tạo các enzyme phụ thuộc selen quan trọng như glutathione peroxidase và thioredoxin reductase [2].
Các enzyme này bảo vệ tế bào bánh rau và nội mô mạch máu khỏi sự phá hủy của các gốc tự do [2]. Trong khi các chất chống oxy hóa ngoại sinh như vitamin C hay vitamin E được chứng minh là không hiệu quả và có thể tiềm ẩn nguy cơ khi dùng dự phòng, hệ thống chống oxy hóa nội sinh phụ thuộc selen lại giữ vai trò sinh học then chốt [2]. Nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật ghi nhận sự thiếu hụt selen gây ra tình trạng stress oxy hóa tại bánh rau và dẫn đến hội chứng tương tự tiền sản giật [2]. Việc bổ sung selen cho thấy khả năng cải thiện biểu hiện enzyme chống oxy hóa trong tế bào nuôi nhằm bảo vệ bánh rau [2].
Nồng độ selen máu và nguy cơ tiền sản giật
Nhiều nghiên cứu quan sát trên thế giới ghi nhận mối liên hệ nghịch giữa hàm lượng selen trong máu và tỷ lệ mắc tiền sản giật [4, 7]. Dữ liệu từ 45 khu vực trên toàn cầu bao gồm 6.456.570 ca sinh cho thấy nồng độ selen huyết tương tăng tương quan thuận với mức giảm tỷ lệ tiền sản giật (r = -0,604, p < 0,0001) [3]. Những quốc gia đạt nồng độ selen huyết thanh từ 95 mcg/L trở lên được xếp vào nhóm đủ selen và có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn rõ rệt (p = 0,0007) [3].
Tại Iran, một nghiên cứu bệnh chứng lồng ghép trên 650 thai phụ mang thai con so ở tuần 24-28 theo dõi trong 3 tháng đã phân tích nồng độ selen của 38 phụ nữ bị tiền sản giật và 38 thai phụ bình thường [4]. Kết quả đo bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử cho thấy nhóm tiền sản giật có nồng độ selen huyết tương trung bình thấp hơn rõ rệt (70,63 ± 21,41 mcg/L so với 82,03 ± 15,54 mcg/L, p < 0,05) [4]. Phụ nữ nằm ở nhóm một phần ba có nồng độ selen thấp nhất (dưới 62,2 mcg/L) đối mặt với nguy cơ tiền sản giật cao hơn [4].
Một nghiên cứu bệnh chứng khác năm 2011 so sánh 40 thai phụ tiền sản giật và 40 thai phụ khỏe mạnh ở tuần thai 34-39 [5]. Kết quả ghi nhận nồng độ selen huyết tương giảm rõ rệt ở nhóm bệnh lý so với nhóm khỏe mạnh (p = 0,001) [5]. Nguy cơ mắc tiền sản giật ở nhóm một phần ba nồng độ selen thấp nhất cao gấp 4,96 lần (OR = 4,96, KTC 95%: 1,56 - 15,6, p = 0,006) và ở nhóm một phần ba ở giữa cao gấp 3,94 lần (OR = 3,94, KTC 95%: 1,26 - 12,33, p = 0,019) so với nhóm cao nhất [5]. Mức selen huyết tương dưới 60 mcg/L có độ nhạy 87,5% và giá trị dự báo dương tính 64,8% để tầm soát nguy cơ này [5].
Nghiên cứu can thiệp: Uống bổ sung có ngừa được bệnh?
Mặc dù các nghiên cứu quan sát ghi nhận mối liên hệ giữa nồng độ selen thấp và bệnh lý, việc can thiệp bổ sung có mang lại lợi ích thực tế hay không lại cần bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng.
Một thử nghiệm lâm sàng thí điểm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược tại Iran được tiến hành trên 166 phụ nữ mang thai con so trong ba tháng đầu thai kỳ [6]. Các đối tượng được chia ngẫu nhiên dùng 100 mcg selen mỗi ngày (83 người, 22 người bỏ dở) hoặc dùng giả dược (83 người, 19 người bỏ dở) cho đến lúc sinh [6]. Việc bổ sung selen không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng và làm tăng đáng kể nồng độ selen huyết thanh lúc sinh (p < 0,001) [6]. Tỷ lệ mắc tiền sản giật ở nhóm uống selen là 0 ca, trong khi nhóm giả dược là 3 ca, tuy nhiên sự khác biệt này chưa đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05) [6].
Một phân tích tổng hợp năm 2016 gộp 13 nghiên cứu quan sát (1.515 người) và 3 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (439 người) đã chỉ ra sự chênh lệch nồng độ selen máu trung bình là -6,47 mcg/L (KTC 95%: -11,24 đến -1,7, p = 0,008) ở thai phụ tiền sản giật [7]. Trong các thử nghiệm lâm sàng, nguy cơ tương đối mắc tiền sản giật ở nhóm bổ sung selen giảm đáng kể (RR = 0,28, KTC 95%: 0,09 - 0,84, p = 0,02) [7].
Tuy nhiên, nghiên cứu đoàn hệ quy mô rất lớn tại Na Uy năm 2021 trên 69.972 thai kỳ đơn thai từ Nghiên cứu Đoàn hệ Mẹ, Cha và Con cái (MoBa) lại đưa ra kết quả trái ngược [8]. Các tác giả khảo sát lượng selen ăn vào bằng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm ở tuần thai 22 và định lượng nồng độ selen toàn phần ở tuần thai 18 trên 2.572 thai phụ [8]. Mức tiêu thụ selen trung vị từ chế độ ăn của đoàn hệ là 53 mcg/ngày [8]. Kết quả cho thấy lượng selen từ thức ăn không liên quan có ý nghĩa thống kê đến rối loạn tăng huyết áp thai kỳ nói chung hay tiền sản giật nói riêng (aOR = 1,03, KTC 95%: 0,98 - 1,08) [8]. Uống chất bổ sung selen vô cơ (aOR = 1,01) hay selen hữu cơ (aOR = 0,98) cũng như nồng độ selen trong máu toàn phần đều không làm thay đổi nguy cơ mắc bệnh [8].
Giới hạn của bằng chứng hiện có
Tổng quan hệ thống năm 2022 khảo sát 22 bài báo (17 bài về kết cục của mẹ, 2 bài về trẻ sơ sinh, 3 bài về cả hai) trên 6 cơ sở dữ liệu quốc tế đã đánh giá toàn diện các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về bổ sung selen trong thai kỳ [1]. Kết quả cho thấy phần lớn các nghiên cứu được công bố chưa đủ chuẩn thiết kế lâm sàng để xác lập tính hữu dụng khoa học [1].
Bên cạnh tiền sản giật, selen được nghiên cứu ở các khía cạnh khác như phòng ngừa đái tháo đường thai kỳ, trầm cảm sau sinh hay vỡ ối sớm, song chỉ có 4 nghiên cứu ghi nhận bổ sung selen giúp giảm tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp và suy giáp vĩnh viễn thời kỳ hậu sản nhờ giảm hiệu giá kháng thể kháng peroxidase và kháng thyroglobulin [1]. Kết luận chung cho thấy bằng chứng hiện tại vẫn chưa đủ mạnh để đưa việc bổ sung selen riêng biệt thành hướng dẫn thường quy cho mọi thai phụ [1].
Mâu thuẫn giữa các nghiên cứu xuất phát từ tình trạng dinh dưỡng nền của quần thể [8]. Tại những nơi người dân đã đạt mức selen khuyến nghị từ khẩu phần ăn tự nhiên (khoảng 53 mcg/ngày như ở Na Uy), việc bổ sung thêm không mang lại lợi ích dự phòng [8]. Bổ sung chỉ có thể cho thấy hiệu quả ở các quần thể thiếu hụt trầm trọng do thổ nhưỡng nghèo vi chất [3].
Hiểu lầm thường gặp về việc bổ sung selen
Nhiều người lầm tưởng rằng uống càng nhiều chất chống oxy hóa thì thai nhi càng được bảo vệ tốt hơn. Thực tế, cơ thể cần sự cân bằng oxy hóa - khử ở mức sinh lý bình thường. Việc tự ý tăng liều các vi chất đơn lẻ không theo kiểm soát có thể gây quá liều, làm xáo trộn các quá trình chuyển hóa nội môi mà không đem lại lợi ích lâm sàng rõ ràng.
Một quan niệm sai lầm khác là cứ thấy người khác uống viên selen riêng thì bản thân cũng cần uống theo. Cần phân biệt rõ giữa viên vi chất tổng hợp dành cho bà bầu (thường đã có hàm lượng selen cân đối ở mức nhu cầu hàng ngày) và các sản phẩm selen đơn chất liều cao. Việc uống chồng chéo nhiều loại thực phẩm chức năng có thể khiến tổng lượng selen nạp vào vượt quá ngưỡng an toàn mà mẹ bầu không hề hay biết.
Ai nên thận trọng và cần chỉ định y tế?
Phụ nữ mang thai không có dấu hiệu thiếu hụt dinh dưỡng và sinh sống tại các khu vực có nguồn thực phẩm đa dạng tuyệt đối không tự ý dùng thêm selen đơn chất. Việc đánh giá tình trạng vi chất phải dựa trên thăm khám lâm sàng và các xét nghiệm chuyên biệt nếu nghi ngờ thiếu hụt [5].
Những thai phụ có tiền sử bệnh lý tuyến giáp tự miễn sau sinh hoặc thuộc nhóm nguy cơ cao tiền sản giật cần trao đổi trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa phụ sản và nội tiết [1, 3]. Bác sĩ sẽ cân nhắc tiền sử cá nhân, chế độ dinh dưỡng hàng ngày và tình trạng sức khỏe tổng thể trước khi quyết định can thiệp. Bất kỳ sự bổ sung nào trong thai kỳ cũng cần được theo dõi chặt chẽ để phòng ngừa rủi ro tương tác dưỡng chất.
Áp dụng chế độ dinh dưỡng thực tế cho mẹ bầu
Thay vì tìm kiếm các viên uống selen riêng biệt, mẹ bầu nên ưu tiên bổ sung khoáng chất này thông qua chế độ ăn phong phú hàng ngày. Lượng selen trong thực phẩm tự nhiên rất an toàn và đi kèm nhiều dưỡng chất có lợi khác.
Các nguồn thực phẩm giàu selen bao gồm các loại hạt, ngũ cốc nguyên cám, hải sản cá nước mặn, thịt gia cầm, thịt nạc và trứng. Chế độ ăn uống đa dạng các nhóm đạm và ngũ cốc giúp cung cấp đủ mức selen tương đương khuyến cáo (khoảng 53 mcg/ngày) mà không cần can thiệp thuốc [8]. Khi chế biến, mẹ bầu nên ưu tiên các phương pháp nấu nướng nhẹ nhàng như luộc, hấp để hạn chế thất thoát vi chất.
Nếu đang sử dụng viên đa vi chất thai kỳ tổng hợp, mẹ bầu hãy đọc kỹ nhãn thành phần dinh dưỡng. Hầu hết các loại viên uống này đã chứa một lượng selen vừa đủ cho nhu cầu sinh lý. Không tự ý kết hợp thêm các viên chống oxy hóa đơn lẻ khác trừ khi có chỉ định rõ ràng từ bác sĩ phụ trách.
Nhìn chung, selen là vi chất cần thiết cho chức năng chống oxy hóa của bánh rau và sức khỏe mẹ bầu [2]. Dù nồng độ selen thấp có liên quan đến nguy cơ tiền sản giật trong các nghiên cứu quan sát [2, 5], việc tự ý uống bổ sung selen riêng biệt chưa được khuyến cáo đại trà do dữ liệu thử nghiệm lâm sàng vẫn còn nhiều hạn chế [1, 6]. Mẹ bầu nên duy trì chế độ ăn uống cân bằng, dùng viên đa vi chất theo hướng dẫn và luôn tham khảo ý kiến nhân viên y tế trước khi bổ sung bất kỳ sản phẩm nào.








