Nhiều người có tâm lý thả lỏng ăn uống trong các kỳ nghỉ, dịp lễ tết hoặc muốn tăng cân cấp tốc để cải thiện vóc dáng. Thói quen nạp năng lượng ồ ạt khiến cân nặng nhảy vọt chỉ sau vài tuần ngắn ngủi. Tuy nhiên, việc tăng trọng lượng cơ thể quá nhanh tiềm ẩn nhiều nguy cơ chuyển hóa nghiêm trọng hơn nhiều so với việc tăng cân từ từ.

Khi cơ thể đối mặt với tình trạng dư thừa calo cấp tính, mỡ thừa không kịp tích trữ an toàn dưới da mà tràn vào nội tạng và gan. Quá trình này kích hoạt phản ứng đề kháng insulin, gây áp lực chuyển hóa lớn lên tế bào gan và làm xáo trộn các chỉ số sinh hóa máu.

Gánh nặng chuyển hóa khi cơ thể nạp thừa calo cấp tính

Khi năng lượng nạp vào vượt xa nhu cầu sử dụng, cơ thể buộc phải tìm nơi cất giữ lượng calo dư thừa dưới dạng chất béo. Mô mỡ dưới da đóng vai trò như chiếc bình chứa ban đầu [1]. Nếu tốc độ nạp calo diễn ra từ từ, mô mỡ dưới da có thể thích nghi và giãn nở dần dần.

Ngược lại, tình trạng dư thừa calo cấp tính khiến kho chứa dưới da nhanh chóng quá tải [1]. Khi đó, chất béo buộc phải chuyển hướng tích tụ vào các cơ quan nội tạng và các vị trí bất thường khác như mô gan hay cơ xương [1]. Quá trình này được gọi là tích mỡ lạc chỗ, căn nguyên dẫn tới rối loạn chuyển hóa toàn thân [2].

Chất béo nội tạng hoạt động như một cơ quan nội tiết bất thường, liên tục tiết ra các cytokine gây viêm và các adipokine làm giảm độ nhạy insulin [2]. Cùng lúc đó, nồng độ axit béo tự do lưu thông trong máu tăng vọt, gây độc tế bào do mỡ (lipotoxicity) tại gan và mô cơ [2, 8].

Đề kháng insulin: Tấm khiên sinh lý biến thành bệnh lý

Đề kháng insulin là tình trạng các tế bào đích như gan, cơ bắp và mô mỡ giảm khả năng đáp ứng với hormone insulin, khiến glucose khó đi vào tế bào để tạo năng lượng [3]. Khi cơ thể tăng cân nhanh, hiện tượng này xuất hiện như một phản ứng tự nhiên nhằm ngăn mô mỡ tích tụ thêm chất béo [1].

Ban đầu, sự gia tăng kích thước mô mỡ dưới da làm tăng đề kháng insulin để hạn chế tế bào mỡ nạp thêm chất béo [1]. Tuy nhiên, nếu lượng calo nạp vào vẫn tiếp tục dư thừa, chất béo sẽ tràn sang mỡ nội tạng và các vị trí lạc chỗ, đẩy chỉ số đề kháng insulin lên mức bệnh lý [1]. Tình trạng này khiến tuyến tụy phải tăng tiết insulin liên tục để duy trì mức đường huyết ổn định, gây ra hiện tượng tăng insulin máu [2].

Hiện tượng tăng insulin máu vừa là hệ quả vừa là yếu tố thúc đẩy tăng cân nhanh hơn [2]. Nghiên cứu chỉ ra rằng nồng độ insulin lúc đói cao dự báo xu hướng tăng cân nhiều hơn trong thời gian dài [2]. Vòng xoắn luẩn quẩn này khiến cơ thể ngày càng khó đốt cháy mỡ thừa và nhanh chóng đẩy người thừa cân vào ngưỡng tiền đái tháo đường [2, 4].

Men gan tăng và nhiễm mỡ gan do tích tụ mỡ lạc chỗ

Mỡ nội tạng và mỡ trong tế bào gan là hai mắt xích trung gian quan trọng liên kết giữa việc tăng cân nhanh và sự suy giảm độ nhạy insulin [4]. Khi dòng axit béo tự do đổ dồn về gan qua hệ tuần hoàn cửa, gan phải đối mặt với tình trạng quá tải chuyển hóa lipid [3, 8].

Sự tích tụ mỡ trong tế bào gan kích thích phản ứng viêm cục bộ và hiện tượng độc mỡ [2, 8]. Độc mỡ ức chế quá trình hấp thu và chuyển hóa glucose, đồng thời tạo ra áp lực oxy hóa làm tổn thương các tế bào gan [3]. Hiện tượng tổn thương màng tế bào này thường đi kèm với việc phóng thích các enzyme gan vào máu, biểu hiện qua sự tăng cao của các chỉ số men gan trong xét nghiệm thường quy.

Tình trạng nhiễm mỡ gan cấp tính không chỉ làm suy giảm chức năng gan mà còn làm trầm trọng thêm mức độ đề kháng insulin toàn thân [3, 8]. Lượng axit béo tự do tăng cao tạo ra hiện tượng đề kháng insulin tại gan, cản trở gan ức chế sản xuất đường nội sinh, dẫn đến đường huyết lúc đói tăng cao [3].

Các nghiên cứu nói gì về tốc độ tăng cân và suy giảm chuyển hóa?

Các thử nghiệm can thiệp ép ăn quá mức và nghiên cứu đoàn hệ đã làm sáng tỏ phản ứng của cơ thể khi cân nặng tăng nhanh.

Trong một nghiên cứu năm 2013, 28 người trưởng thành khỏe mạnh, thể trạng gầy (chỉ số BMI trung bình 22,1 kg/m2) được can thiệp ăn dư thừa calo trong khoảng 8 tuần để tăng khoảng 4 kg mỡ [5]. Các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp quét DXA và chụp cắt lớp vi tính (CT) bụng để đo lường lượng mỡ tăng lên [5]. Kết quả cho thấy các tình nguyện viên tăng trung bình 4,6 kg trọng lượng cơ thể (gồm 3,8 kg mỡ) [5]. Trong đó, mỡ nội tạng chiếm từ -5% đến 22% tổng lượng mỡ tăng thêm, còn mỡ dưới da bụng chiếm 17% đến 69% [5]. Diện tích dưới đường cong insulin 24 giờ ban đầu có tương quan thuận với tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể (r = 0,43, p < 0,05) [5]. Tuy nhiên, độ nhạy insulin ban đầu không dự báo được vị trí mỡ sẽ tích tụ khi ăn quá mức, chứng minh rằng suy giảm độ nhạy insulin không phải điều kiện bắt buộc để tăng mỡ thân trên [5].

Một nghiên cứu công bố năm 2016 đã so sánh phản ứng khi ăn dư calo ngắn hạn giữa người nhạy cảm insulin và người đề kháng insulin có cùng chỉ số BMI [6]. Khi tăng trung bình 3,1 kg cân nặng, nhóm nhạy cảm insulin lại hứng chịu tác động tiêu cực rõ rệt hơn: kích thước tế bào mỡ phình to đáng kể, lượng mỡ nội tạng và mỡ trong tế bào gan tăng mạnh [6]. Đi kèm với đó là mức suy giảm hấp thu glucose qua trung gian insulin tới 45% [6]. Trong khi đó, nhóm vốn đã đề kháng insulin chỉ ghi nhận mức suy giảm 8% về hấp thu glucose [6]. Điều này cho thấy những người có độ nhạy insulin bình thường rất dễ bị tổn hại chuyển hóa cấp tính khi nạp dư calo ồ ạt [6].

Tại Malaysia, nghiên cứu năm 2021 trên trẻ em béo phì theo dõi trong 6 tháng cho thấy có mối tương quan thuận rõ rệt giữa mức tăng cân với chỉ số đề kháng insulin HOMA-IR (hệ số r = 0,737, p < 0,001) [2]. Đáng chú ý, thời gian để tăng thêm 5 kg từ mức nền diễn ra nhanh hơn gấp 1,6 lần ở nhóm có đề kháng insulin [2].

Tại Hà Lan, nghiên cứu Dịch tễ học Béo phì (NEO study) công bố năm 2019 phân tích trên 1.758 người trung niên bằng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ (MRI) và quang phổ cộng hưởng từ proton (1H-MRS) [4]. Kết quả cho thấy những người tăng từ 50% trọng lượng cơ thể trở lên trong giai đoạn trưởng thành có chỉ số HOMA-IR cao gấp 3,22 lần so với người duy trì cân nặng ổn định [4]. Phân tích trung gian chỉ ra rằng mỡ nội tạng giải thích 32,0% mối liên hệ giữa tăng cân và đề kháng insulin, trong khi lượng mỡ trong gan giải thích 22,5%, còn tổng lượng mỡ toàn thân chỉ đóng góp 8,1% [4].

Các bằng chứng đều thống nhất rằng lượng calo dư thừa dồn dập sẽ kéo theo sự tích tụ mỡ ở nội tạng và gan [3, 6]. Dù vậy, các nghiên cứu này cũng có giới hạn nhất định, như cỡ mẫu trong các thử nghiệm ép ăn còn tương đối nhỏ (28 người) hoặc sử dụng số liệu cân nặng trong quá khứ dựa trên trí nhớ của đối tượng tham gia [1, 3].

4 rủi ro chuyển hóa lớn khi cân nặng nhảy vọt

Dựa trên các cơ chế bệnh sinh và bằng chứng khoa học, việc nạp thừa calo cấp tính dẫn tới 4 rủi ro chuyển hóa then chốt:

Thứ nhất, suy giảm độ nhạy insulin cấp tính. Hiện tượng dư thừa calo nhanh chóng làm phình đại tế bào mỡ và giảm khả năng hấp thu glucose của mô cơ, khiến chỉ số nhạy cảm insulin suy giảm mạnh tới 45% chỉ sau một đợt tăng cân ngắn [6].

Thứ hai, gan nhiễm mỡ và tăng men gan. Mỡ tích tụ lạc chỗ trong gan chiếm tới 22,5% vai trò trung gian gây kháng insulin [4]. Hiện tượng độc mỡ và dòng axit béo tự do tràn về gan gây tổn thương tế bào và kéo theo sự giải phóng men gan vào máu [2, 8].

Thứ ba, rối loạn chuyển hóa do mỡ nội tạng. Khối mỡ tích tụ sâu quanh các cơ quan trong ổ bụng giải thích tới 32% tình trạng kháng insulin ở tuổi trung niên [4]. Mỡ nội tạng giải phóng hàng loạt cytokine gây viêm như TNF-alpha và làm suy giảm nồng độ adiponectin bảo vệ thành mạch [2, 5].

Thứ tư, gia tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường típ 2. Tăng cân không kiểm soát khiến chu trình chuyển hóa bị phá vỡ, kéo theo tình trạng tăng đường huyết, rối loạn lipid máu và đẩy nhanh tiến trình xuất hiện bệnh tim mạch [3, 4, 7].

Những hiểu lầm thường gặp về tăng cân cấp tốc

Nhiều người lầm tưởng rằng người có thể trạng gầy có thể thoải mái ăn uống vô độ mà không lo ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Nghiên cứu thực tế cho thấy ngay cả người gầy khỏe mạnh khi bị ép ăn dư thừa calo trong 8 tuần vẫn tích tụ thêm từ 17% đến 69% mỡ dưới da bụng và tới 22% mỡ nội tạng [5]. Những người nhạy cảm với insulin khi tăng cân nhanh thậm chí còn bị suy giảm chức năng chuyển hóa nghiêm trọng hơn [6].

Một hiểu lầm phổ biến khác là chỉ cần bề ngoài không quá béo phì thì các cơ quan bên trong vẫn an toàn. Mức độ mỡ dưới da không phản ánh toàn diện sức khỏe chuyển hóa, bởi chính lượng mỡ tích tụ ở gan và nội tạng mới là yếu tố cốt lõi dẫn đến đề kháng insulin và viêm nhiễm [3, 8].

Một số người cũng tin rằng dùng phẫu thuật hút mỡ hay cắt bỏ mỡ có thể giải quyết được gốc rễ rối loạn chuyển hóa. Trong một nghiên cứu thực nghiệm năm 2012 trên chuột mắc đái tháo đường béo phì, phẫu thuật cắt bỏ mỡ nội tạng đơn thuần chỉ mang lại sự cải thiện rất nhỏ đối với chuyển hóa glucose và đề kháng insulin so với phẫu thuật thắt đai dạ dày nhằm hạn chế ăn vào [7]. Khi kết hợp cắt mỡ nội tạng với thắt đai dạ dày, kết quả cũng không tạo ra sự khác biệt vượt trội so với chỉ thắt đai dạ dày [7]. Điều này cho thấy việc cắt giảm lượng calo nạp vào đóng vai trò then chốt hơn nhiều so với việc chỉ loại bỏ mô mỡ cơ học [7].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Những người đã có tình trạng kháng insulin hoặc tiền đái tháo đường cần tuyệt đối tránh các đợt nạp calo quá mức. Nghiên cứu cho thấy người có sẵn đề kháng insulin có tốc độ tăng thêm 5 kg cân nặng nhanh hơn 1,6 lần so với bình thường, tạo ra nguy cơ bùng phát bệnh lý rất cao [2].

Người trung niên cũng là nhóm cần hết sức lưu ý. Mức tăng cân tích lũy trong giai đoạn trưởng thành làm tăng vọt nguy cơ kháng insulin gấp 3,22 lần, chủ yếu do xu hướng chuyển hóa chậm lại khiến mỡ dễ lắng đọng tại gan và nội tạng [4].

Ngoài ra, những người có yếu tố gia đình mắc bệnh đái tháo đường típ 2 hoặc thuộc các nhóm dân tộc có đặc điểm di truyền tiết kiệm năng lượng dễ bị tích mỡ nội tạng hơn khi tiếp xúc với lối sống dư thừa năng lượng kiểu phương Tây [1, 7]. Những đối tượng này khi có bệnh nền chuyển hóa cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa nội tiết trước khi thực hiện bất kỳ chế độ thay đổi cân nặng nào.

Giải pháp kiểm soát cân nặng an toàn và bền vững

Việc đảo ngược tình trạng kháng insulin và tích mỡ gan hoàn toàn có thể đạt được thông qua điều chỉnh lối sống hợp lý [3]. Nghiên cứu chỉ ra rằng các biện pháp vệ sinh chuyển hóa bao gồm hạn chế calo và tập luyện thể dục có khả năng đẩy lùi tình trạng độc mỡ và độc đường [3]. Điển hình như các võ sĩ Sumo tích cực tập luyện dù có lượng mỡ dưới da rất lớn nhưng lượng mỡ nội tạng vẫn thấp và không bị rối loạn đường huyết hay rối loạn lipid máu [3].

Để tăng cân lành mạnh cho người có thể trạng quá gầy, tốc độ tăng cân cần được duy trì chậm rãi, chỉ nên thặng dư một lượng calo nhỏ mỗi ngày thay vì dồn dập nạp năng lượng trong thời gian ngắn. Chế độ ăn nên ưu tiên nguồn thực phẩm nguyên bản, giàu đạm nạc, chất xơ và chất béo không bão hòa, hạn chế đường ngọt hấp thu nhanh để giảm tải gánh nặng cho gan [3].

Bên cạnh dinh dưỡng, việc kết hợp tập kháng lực giúp kích thích cơ bắp sử dụng glucose mà không cần phụ thuộc hoàn toàn vào insulin [3]. Vận động thường xuyên là phương pháp tự nhiên hiệu quả nhất để ngăn chặn chất béo tràn vào nội tạng và hỗ trợ tế bào gan phục hồi chức năng chuyển hóa [3].

Tăng cân nhanh chóng dưới áp lực của việc dư thừa calo cấp tính tạo ra một cú sốc chuyển hóa thực sự đối với cơ thể. Thay vì chạy theo những mục tiêu cân nặng ngắn hạn, duy trì một lối sống cân bằng, dinh dưỡng hợp lý kết hợp vận động đều đặn mới là chìa khóa bảo vệ lá gan và giữ cho hệ chuyển hóa luôn khỏe mạnh.