Uống trà để bảo vệ tim mạch và kiểm soát huyết áp là thói quen quen thuộc của nhiều gia đình Việt Nam. Giữa vô số loại thảo mộc, trà xanh (Camellia sinensis) truyền thống và trà dâm bụt đỏ (Hibiscus sabdariffa) thường xuyên được đặt lên bàn cân so sánh về công dụng hạ áp. Nhiều người thắc mắc liệu loại thức uống nào mang lại hiệu quả rõ rệt hơn và có thể thay thế thuốc điều trị hay không.

Nếu xét riêng về hiệu quả hạ huyết áp dựa trên các bằng chứng lâm sàng trực tiếp trên người, trà dâm bụt chiếm ưu thế rõ ràng hơn so với trà thông thường [1]. Nghiên cứu cho thấy hoạt chất trong dâm bụt hoạt động như một chất ức chế men chuyển nhẹ, mang lại tác động hạ áp tương đương một số thuốc tây y quen thuộc ở mức độ thử nghiệm [2].

Hoạt chất và cơ chế ức chế huyết áp

Cơ chế điều hòa huyết áp của trà dâm bụt và trà xanh xuất phát từ các hợp chất thực vật tự nhiên giàu hoạt tính sinh học. Trong lá trà xanh, nhóm polyphenol chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt là catechin và epigallocatechin gallate (EGCG), đi kèm vitamin C, vitamin E, carotenoid cùng các khoáng chất như crom, mangan, selen, kẽm [3]. Những chất này giúp bảo vệ thành mạch trước các tổn thương do gốc tự do gây ra [3].

Đối với trà dâm bụt, phần đài hoa chứa hàm lượng anthocyanin vô cùng dồi dào [2]. Khi đi vào cơ thể, chiết xuất đài hoa dâm bụt thể hiện cơ chế lợi tiểu tự nhiên mà không làm biến đổi đáng kể nồng độ điện giải trong phần lớn các trường hợp [2]. Đặc biệt, chiết xuất dâm bụt có khả năng ức chế men chuyển angiotensin (ACE) – một cơ chế tương tự nhóm thuốc hạ áp ACE inhibitor kinh điển [1], [2]. Việc ức chế men chuyển giúp mạch máu giãn nở tự nhiên, làm giảm áp lực dòng chảy của máu lên thành mạch [1], [2].

Ngoài ra, dâm bụt còn cho thấy khả năng hỗ trợ cải thiện mỡ máu khi làm giảm cholesterol toàn phần, LDL-C và triglyceride trong các nghiên cứu trên động vật cũng như hơn một nửa số thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên [2].

Nghiên cứu lâm sàng về trà dâm bụt

Hiệu quả của trà dâm bụt đã được kiểm chứng qua nhiều thiết kế nghiên cứu lâm sàng trên người trưởng thành có huyết áp cao hoặc tiền tăng huyết áp.

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược năm 2010 theo dõi 65 người trưởng thành từ 30-70 tuổi mắc tiền tăng huyết áp hoặc tăng huyết áp nhẹ không dùng thuốc [4]. Nhóm can thiệp uống 3 khẩu phần trà dâm bụt mỗi ngày (mỗi lần 240 ml, tổng cộng 720 ml) kéo dài liên tục 6 tuần [4]. Kết quả ghi nhận huyết áp tâm thu giảm trung bình 7,2 mmHg ở nhóm dùng trà dâm bụt, vượt trội rõ rệt so với mức giảm 1,3 mmHg ở nhóm giả dược (P = 0,030) [4]. Huyết áp tâm trương cũng giảm 3,1 mmHg ở nhóm uống trà (so với giảm 0,5 mmHg ở nhóm giả dược) [4]. Đáng chú ý, người có huyết áp ban đầu càng cao thì mức độ đáp ứng hạ áp với dâm bụt càng rõ (r = -0,421; P = 0,010) [4].

Một nghiên cứu can thiệp lâm sàng khác năm 2019 tiến hành trên 46 bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 do bác sĩ tim mạch chẩn đoán [5]. Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm đều nhận cùng lời khuyên thay đổi lối sống và dinh dưỡng, riêng nhóm can thiệp uống thêm 2 tách trà chua dâm bụt tiêu chuẩn mỗi sáng trong vòng 1 tháng [5]. Kết quả chỉ ra mức giảm huyết áp tâm thu và tâm trương ở nhóm uống dâm bụt vượt trội có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (lần lượt P = 0,004 và P < 0,001) [5].

Nghiên cứu thí điểm năm 2019 tại Jordan đánh giá việc dùng trà dâm bụt trên 38 người có huyết áp không kiểm soát trên 140/90 mmHg [6]. Liều lượng bắt đầu từ 10 g dâm bụt/0,5 lít nước mỗi ngày, tăng lên 15 g/1 lít vào tuần thứ hai và 20 g/1 lít vào tuần thứ ba nếu huyết áp chưa đạt chuẩn [6]. Trong số 29 người hoàn thành liệu trình (72% đang uống thuốc hạ áp nhưng không kiểm soát được, 28% không dùng thuốc), có 38% người đạt huyết áp mục tiêu và 65% người giảm được ít nhất 10 mmHg huyết áp tâm thu [6].

Trà dâm bụt so với trà thông thường và thuốc điều trị

Khi đặt lên bàn cân so sánh trực tiếp, vị thế của dâm bụt được phân tích rất chi tiết trong các tài liệu tổng quan y khoa.

Tổng quan hệ thống công bố năm 2010 phân tích 4 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng với tổng cộng 390 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát [1]. Trong đó, 2 nghiên cứu so sánh trực tiếp đài hoa dâm bụt với trà đen (black tea), 1 nghiên cứu so sánh với thuốc Captopril và 1 nghiên cứu so sánh với Lisinopril [1]. Kết quả tổng hợp chỉ ra trà dâm bụt tạo ra mức giảm huyết áp lớn hơn so với trà thông thường [1]. Dù vậy, hiệu quả hạ áp của dâm bụt vẫn thấp hơn nhóm thuốc ức chế men chuyển ACE [1].

Một tổng quan toàn diện năm 2014 cũng ghi nhận các thử nghiệm lâm sàng đối chứng cho thấy trà dâm bụt có hiệu lực hạ huyết áp tương đương với thuốc Captopril ở liều thông thường, nhưng kém hơn so với thuốc Lisinopril [2]. Chiết xuất dâm bụt cũng được chứng minh làm giảm huyết áp theo cơ chế phụ thuộc liều lượng trên động vật thí nghiệm [2].

Về phía trà xanh, các dữ liệu về tác động hạ áp trực tiếp chủ yếu đến từ mô hình tiền lâm sàng. Nghiên cứu năm 2017 trên chuột cống trắng Wistar bị gây tăng huyết áp bằng hoạt chất L-NAME (20 mg/kg/ngày trong 2 tuần) cho thấy việc dùng trà xanh tùy ý trong 1 tuần đã giúp giảm trị số huyết áp từ 165 mmHg xuống còn 119 mmHg [7]. Trà xanh đồng thời làm giảm hoạt động thần kinh giao cảm thận từ 161 xung/giây xuống 125 xung/giây và cải thiện độ nhạy phản xạ thụ cảm áp lực [7].

Lợi ích chống oxy hóa và bảo vệ thận của hai loại trà

Bên cạnh huyết áp, cả trà xanh và trà dâm bụt đều đem lại các giá trị sinh học quan trọng cho sức khỏe nội tạng và tình trạng stress oxy hóa của cơ thể.

Thử nghiệm lâm sàng mù đôi có đối chứng năm 2017 thực hiện trên 54 cầu thủ bóng đá nam chia làm 3 nhóm ngẫu nhiên: nhóm dùng 450 mg/ngày chiết xuất trà xanh, nhóm dùng 450 mg/ngày chiết xuất trà chua dâm bụt và nhóm dùng giả dược maltodextrin trong 6 tuần [8]. Kết quả cho thấy cả hai nhóm dùng trà xanh và dâm bụt đều giảm đáng kể chỉ số tổn thương oxy hóa malondialdehyde (MDA) trong máu so với nhóm đối chứng (P = 0,008) [8]. Tuy nhiên, nhóm dùng dâm bụt còn ghi nhận sự gia tăng vượt trội về tổng năng lực chống oxy hóa (TAC) so với nhóm trà xanh và nhóm giả dược (P = 0,01) [8]. Cả hai loại đều không làm thay đổi các chỉ số hủy hoại cơ bắp như AST, CK hay LDH [8].

Ở khía cạnh bảo vệ thận, nghiên cứu in vitro và in vivo năm 2014 so sánh lá trà xanh và đài hoa dâm bụt trên mô hình chuột bị tổn thương thận do kháng sinh gentamicin [3]. Cả hai nhóm điều trị bằng dâm bụt và trà xanh đều thể hiện hiệu quả bảo vệ thận thông qua việc giảm sự gia tăng của các chỉ số rối loạn chức năng thận phi enzyme là creatinin huyết thanh và ure huyết thanh [3]. Đáng chú ý, nghiên cứu này chỉ ra trà xanh có thêm hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) với vòng ức chế 19,67 mm và nồng độ ức chế tối thiểu 1,25 mg/ml, trong khi dâm bụt không thể hiện hoạt tính kháng khuẩn tương đương [3].

Giới hạn của các bằng chứng khoa học

Dù các kết quả thử nghiệm lâm sàng ban đầu rất hứa hẹn, người bệnh cần nhìn nhận khách quan về giới hạn của các tài liệu y học hiện nay.

Tổng quan hệ thống năm 2010 đưa ra kết luận rằng 4 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên được rà soát chưa cung cấp đủ bằng chứng đáng tin cậy để chính thức khuyến cáo dâm bụt như một phương pháp điều trị thay thế tăng huyết áp nguyên phát [1]. Nguyên nhân chính là do hầu hết các thử nghiệm đều có thời gian theo dõi ngắn hạn và chất lượng phương pháp còn thấp với điểm thang đo Jadad dưới 3 điểm, chưa đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn thử nghiệm quốc tế [1].

Các nghiên cứu khác như thử nghiệm tại Jordan cũng chỉ mang tính chất nghiên cứu thí điểm với cỡ mẫu còn khiêm tốn gồm 38 người tham gia [6]. Tương tự, nghiên cứu tại Iran năm 2019 cũng chỉ giới hạn ở quy mô 46 bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 [5]. Do đó, người bệnh không thể tự ý coi trà dâm bụt hay trà xanh là phương thuốc thay thế hoàn toàn cho phác đồ điều trị chuẩn của y học hiện đại.

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng trà hạ áp

Nhiều người lầm tưởng rằng đã uống thảo mộc tự nhiên thì có thể dừng uống thuốc huyết áp theo toa bác sĩ. Đây là quan điểm rất nguy hiểm vì trà thảo mộc chỉ mang tính hỗ trợ điều hòa mạch máu nhẹ nhàng [4], [6]. Bằng chứng cho thấy dâm bụt hạ áp kém hơn thuốc ức chế men chuyển Lisinopril [1], [2]. Việc đột ngột bỏ thuốc điều trị sẽ khiến huyết áp tăng vọt, đe dọa biến cố tim mạch.

Một sai lầm khác là quan niệm uống càng đặc, uống càng nhiều thì huyết áp hạ càng nhanh. Mặc dù chiết xuất dâm bụt có độc tính thấp với liều gây chết trung bình (LD50) dao động từ 2.000 đến trên 5.000 mg/kg/ngày ở động vật và không gây độc cho thận [2], việc lạm dụng liều lượng quá cao có thể dẫn đến tác dụng phụ không mong muốn trên gan [2].

Ngoài ra, một số người cho rằng trà xanh và dâm bụt có tác dụng tương đương nhau trên huyết áp. Thực tế, trà dâm bụt thể hiện hiệu quả hạ áp vượt trội hơn hẳn các loại trà truyền thống trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên [1].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Dù được dùng rộng rãi tại ít nhất 10 quốc gia trong việc hỗ trợ tăng huyết áp và mỡ máu mà không có báo cáo về tác dụng phụ nghiêm trọng [2], một số nhóm đối tượng vẫn cần cẩn trọng:

  • Người đang uống thuốc điều trị tăng huyết áp theo đơn: Dâm bụt có khả năng hạ áp hiệp đồng, có thể khiến huyết áp tụt thấp ngoài tầm kiểm soát nếu tự ý kết hợp liều cao mà không có sự theo dõi của bác sĩ [4], [6].
  • Người có tiền sử bệnh gan: Tổng quan nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng chiết xuất dâm bụt ở liều quá cao có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến chức năng gan [2].
  • Bệnh nhân huyết áp thấp: Do dâm bụt có tác dụng lợi tiểu nhẹ và hạ chỉ số huyết áp tâm thu lẫn tâm trương [4], [2], nhóm người này uống thường xuyên dễ bị hoa mắt, chóng mặt.
  • Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú: Nhóm đối tượng này cần tham khảo ý kiến chuyên gia y tế trước khi dùng bất kỳ dạng chiết xuất thảo mộc cô đặc nào.

Hướng dẫn áp dụng thực tế an toàn

Để khai thác tối đa lợi ích mà vẫn đảm bảo an toàn cho cơ thể, người tiêu dùng nên tuân thủ các hướng dẫn chuẩn hóa từ các thử nghiệm lâm sàng:

  • Liều lượng chuẩn: Người có tiền tăng huyết áp hoặc tăng huyết áp nhẹ có thể dùng 3 tách trà dâm bụt (khoảng 240 ml mỗi tách) rải đều trong ngày [4], hoặc dùng 2 tách tiêu chuẩn vào mỗi buổi sáng [5]. Nếu dùng cánh hoa khô tự hãm, lượng dùng an toàn dao động từ 10 g đến 20 g mỗi ngày pha trong 0,5 đến 1 lít nước sôi [6].
  • Thời điểm dùng: Nên uống sau bữa ăn, tránh uống vào lúc bụng quá đói vì vị chua tự nhiên của dâm bụt có thể gây cồn cào dạ dày.
  • Cách phối hợp: Có thể xen kẽ sử dụng dâm bụt và trà xanh vào các thời điểm khác nhau trong ngày để tận dụng đồng thời khả năng hỗ trợ huyết áp của dâm bụt [4] và hoạt tính kháng khuẩn, bảo vệ thận của trà xanh [3]. Không nên thêm đường ngọt để tránh ảnh hưởng đến chuyển hóa mạch máu.

Trà dâm bụt và trà xanh đều là những thức uống thảo mộc lành tính mang lại nhiều giá trị chống oxy hóa và bảo vệ hệ tim mạch. Đối với mục tiêu hỗ trợ hạ chỉ số huyết áp, trà dâm bụt mang lại bằng chứng lâm sàng rõ nét hơn thông qua cơ chế lợi tiểu và ức chế men chuyển nhẹ [4], [2]. Dù vậy, thảo dược này chỉ đóng vai trò hỗ trợ lối sống, người bệnh cần tuân thủ đơn thuốc và thăm khám chuyên khoa định kỳ.