Cà phê là thức uống quen thuộc vào mỗi buổi sáng của hàng triệu người Việt. Nhiều người lo lắng rằng việc duy trì đồ uống này mỗi ngày có thể gây hại cho gan hoặc dạ dày. Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học hiện đại lại chỉ ra điều hoàn toàn ngược lại đối với sức khỏe của lá gan.
Các nghiên cứu cho thấy uống cà phê thường xuyên có liên quan chặt chẽ đến việc giảm nguy cơ xơ hóa gan và xơ gan [1]. Tùy thuộc vào cơ địa và tình trạng sức khỏe, duy trì từ 2 đến trên 3 ly cà phê mỗi ngày được xem là ngưỡng tối ưu giúp bảo vệ tế bào gan [1, 6].
Cà phê tác động đến các mô gan như thế nào?
Xơ gan hình thành khi các tế bào gan bị tổn thương liên tục trong thời gian dài, dẫn đến sự tích tụ các mô sẹo và sợi collagen thay thế cho mô lành. Khi quá trình xơ hóa gan tiến triển nặng, chức năng lọc máu, thải độc và trao đổi chất của gan sẽ suy giảm nghiêm trọng [1, 5].
Các thành phần hoạt tính sinh học trong cà phê, đặc biệt là caffeine và các polyphenol, đã được chứng minh có khả năng can thiệp vào các con đường phân tử gây xơ hóa [2]. Cụ thể, caffeine hoạt động như một chất đối kháng thụ thể adenosine không chọn lọc, hỗ trợ ức chế tín hiệu xơ hóa mô gan [2]. Ngoài ra, các hoạt chất này còn giúp hạn chế tổn thương oxy hóa thông qua việc giảm nồng độ collagen và dấu ấn 8-hydroxydeoxyguanosine [2].
Nhờ những cơ chế phân tử này, cà phê kích hoạt phản ứng bảo vệ tế bào, hạn chế quá trình lắng đọng mô sẹo xơ bất kể nguyên nhân gây bệnh gan ban đầu là gì [2].
Bằng chứng khoa học về việc cà phê giúp ngăn ngừa xơ gan
Để xác định rõ mối quan hệ giữa thức uống này và sức khỏe lá gan, các nhà khoa học đã thực hiện nhiều công trình tổng hợp quy mô lớn trên thế giới.
Nghiên cứu phân tích gộp công bố năm 2015 đã thu thập dữ liệu từ 16 nghiên cứu khác nhau, bao gồm 3.034 người có uống cà phê và 132.076 người không uống cà phê [1]. Kết quả phân tích cho thấy những người uống cà phê có nguy cơ mắc bệnh xơ gan thấp hơn rõ rệt so với người không dùng, với tỷ số chênh gộp OR là 0,61 (khoảng tin cậy 95%: 0,45-0,84) [1]. Đối với tình trạng xơ hóa gan tiến triển, nguy cơ ở nhóm uống cà phê cũng giảm với OR là 0,73 (khoảng tin cậy 95%: 0,58-0,92) [1]. Tác dụng bảo vệ này thể hiện rõ ràng ở cả các phân nhóm bệnh nhân mắc bệnh gan do rượu và bệnh nhân viêm gan virus C mạn tính [1].
Một phân tích gộp khác vào năm 2016 trên 6 nghiên cứu gồm 20.064 người nhằm đánh giá tác động của caffeine đối với bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) [3]. Phân tích nhận thấy tổng lượng caffeine nói chung không liên quan đến tỷ lệ mắc hay mức độ xơ hóa [3]. Tuy nhiên, khi phân tách riêng nguồn caffeine từ cà phê thông thường, lượng dùng lại có liên quan đáng kể đến việc giảm xơ hóa gan ở bệnh nhân NAFLD (độ lệch trung bình gộp MD = -91,35; khoảng tin cậy 95%: -139,42 đến -43,27 từ 2 nghiên cứu) [3].
Bên cạnh đó, một tổng quan hệ thống năm 2016 về cà phê và hội chứng chuyển hóa cũng ghi nhận 4 nghiên cứu đánh giá điểm xơ hóa ở bệnh nhân NAFLD, tất cả đều chỉ ra mối liên hệ nghịch giữa mức tiêu thụ cà phê và độ nặng của xơ hóa gan [4].
Uống bao nhiêu ly cà phê mỗi ngày là đủ?
Xác định ngưỡng uống phù hợp là điều quan trọng để tối ưu hóa lợi ích và hạn chế tác dụng phụ. Các con số nghiên cứu đã đưa ra mốc liều lượng cụ thể.
Trong phân tích gộp năm 2015, các nhà nghiên cứu lấy mốc 2 tách/ngày để phân chia mức tiêu thụ [1]. Kết quả, nhóm uống thấp đến vừa (dưới 2 tách/ngày) có OR mắc xơ gan là 0,66 (khoảng tin cậy 95%: 0,47-0,92) so với người không uống [1]. Khi mức tiêu thụ đạt mức cao (từ 2 tách/ngày trở lên), nguy cơ giảm mạnh hơn với OR chỉ còn 0,53 (khoảng tin cậy 95%: 0,42-0,68) [1]. Dữ liệu này chứng minh mức uống từ 2 tách trở lên đem lại hiệu quả bảo vệ tốt hơn rõ rệt [1, 5].
Một nghiên cứu năm 2011 trên 177 bệnh nhân sinh thiết gan cho thấy lượng caffeine hàng ngày vượt mức 308 mg (tương đương khoảng 2,25 tách cà phê) giúp giảm đáng kể tình trạng xơ hóa gan với OR là 0,33 (khoảng tin cậy 95%: 0,14-0,80) [5]. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố như tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể và lượng rượu bia, mức bảo vệ vẫn giữ vững với OR là 0,25 [5].
Nghiên cứu theo dõi dọc tại Pháp công bố năm 2022 trên bệnh nhân viêm gan C ghi nhận mối quan hệ liều - đáp ứng nghịch rất mạnh: nguy cơ xơ hóa nặng giảm một nửa cho mỗi tách cà phê bổ sung mỗi ngày [6]. Tác dụng chống xơ hóa thể hiện mạnh nhất ở ngưỡng từ 3 tách/ngày trở lên, thậm chí hiệu quả này vẫn tiếp diễn ngay cả sau khi bệnh nhân đã được chữa khỏi viêm gan C [6]. Hầu hết các dữ liệu cũng chỉ ra ngưỡng tiêu thụ đạt lợi ích đáng kể cho gan và giảm tử vong là từ 3 tách trở lên mỗi ngày [6].
Tại Brazil, một nghiên cứu năm 2013 trên 136 bệnh nhân viêm gan C mạn tính ghi nhận việc tiêu thụ caffeine từ 123 mg/ngày trở lên (tương đương từ 255 mL cà phê/ngày hay 4 tách nhỏ kiểu Brazil) đã giúp giảm tỷ lệ xơ hóa tiến triển xuống 23,5% so với 54,5% ở nhóm uống ít hơn [7]. Đồng thời, nồng độ men gan AST cũng thấp hơn ở nhóm uống nhiều cà phê [7].
Giới hạn của bằng chứng và những hiểu lầm thường gặp
Mặc dù các dữ liệu đều ủng hộ tác dụng của cà phê, người dùng cần nhìn nhận đúng bản chất của các bằng chứng y khoa hiện có.
Nhiều người lầm tưởng rằng uống bất kỳ nguồn caffeine nào như nước tăng lực, trà đặc hay nước ngọt có ga cũng đều giúp bổ gan. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra nguồn caffeine ngoài cà phê hoặc cà phê khử caffeine (decaf) không cho thấy mối liên hệ rõ ràng với việc giảm xơ hóa gan [5]. Lợi ích chống xơ hóa chỉ tập trung vượt trội ở cà phê thường [2, 8].
Ngoài ra, tổng quan hệ thống năm 2021 nhấn mạnh rằng dù nhiều nghiên cứu ủng hộ việc dùng cà phê để giảm xơ hóa ở bệnh nhân NAFLD, lượng dùng và dạng cà phê chuẩn xác nhất vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn do sự khác biệt giữa các thiết kế nghiên cứu quan sát [8]. Cà phê không phải là "thuốc tiên" để đảo ngược hoàn toàn xơ gan giai đoạn cuối hay chữa khỏi bệnh lý nền nếu người bệnh vẫn duy trì lối sống có hại [3, 6].
Những ai cần thận trọng khi sử dụng cà phê?
Dù cà phê đem lại nhiều lợi ích cho gan, không phải ai cũng có thể thoải mái dung nạp lượng lớn thức uống này hằng ngày.
Những người mắc bệnh dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản (GERD) hoặc viêm loét tiêu hóa có thể bị kích ứng niêm mạc khi dùng cà phê đậm đặc hoặc uống lúc đói. Người có tiền sử rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp chưa kiểm soát hoặc thường xuyên mất ngủ, lo âu cần theo dõi sát phản ứng của cơ thể khi dùng caffeine. Phụ nữ mang thai hoặc người đang dùng các thuốc chuyển hóa qua gan cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để điều chỉnh lượng caffeine phù hợp, tránh tương tác bất lợi.
Lời khuyên áp dụng thực tế hằng ngày
Để khai thác tối đa lợi ích bảo vệ gan từ cà phê mà không gây hại cho sức khỏe tổng thể, bạn nên xây dựng thói quen sử dụng hợp lý.
Về liều lượng, duy trì từ 2 đến 3 tách cà phê thông thường mỗi ngày (cung cấp khoảng 200 - 300 mg caffeine) là mức hợp lý dựa trên các nghiên cứu [1, 6, 8]. Nên ưu tiên cà phê đen nguyên chất pha phin hoặc pha máy. Cần hạn chế thêm quá nhiều đường, sữa đặc hoặc kem béo, vì lượng đường và chất béo dư thừa có thể làm tăng nặng tình trạng gan nhiễm mỡ và hội chứng chuyển hóa, triệt tiêu lợi ích vốn có [4].
Về thời điểm, nên uống vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều, tránh dùng sau 16 giờ để không gây ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ. Không nên uống cà phê thay nước lọc hay dùng khi bụng đang hoàn toàn rỗng.
Cà phê là một thức uống hỗ trợ sức khỏe gan hiệu quả khi được sử dụng đều đặn từ 2 đến 3 ly mỗi ngày [1, 6]. Tuy nhiên, thức uống này chỉ phát huy tối đa công dụng khi đi kèm chế độ ăn uống lành mạnh, kiêng rượu bia và kiểm soát tốt các bệnh lý nền [6]. Nếu bạn đang có bệnh lý về gan, tim mạch hay tiêu hóa, hãy trao đổi với bác sĩ để tìm ra mức tiêu thụ phù hợp nhất với bản thân.





