Nhiều người có thói quen uống collagen đều đặn mỗi ngày suốt nhiều tháng, thậm chí nhiều năm liền với hy vọng duy trì làn da tươi trẻ và hệ xương khớp dẻo dai. Tuy nhiên, đi cùng với trào lưu làm đẹp này là nỗi lo lắng liệu việc nạp thêm một lượng đạm cô đặc liên tục có khiến gan phải làm việc quá sức và thận bị quá tải hay không.

Thực tế, đối với một người có chức năng gan và thận hoàn toàn khỏe mạnh, việc bổ sung collagen peptide theo đúng liều lượng khuyến cáo không gây tổn thương hay tạo gánh nặng bệnh lý lên hai cơ quan này. Mối nguy chỉ xuất hiện khi người dùng lạm dụng liều lượng quá mức, sử dụng sản phẩm kém chất lượng hoặc bản thân đã có sẵn bệnh nền suy giảm chức năng gan, thận mà không kiểm soát tổng lượng protein nạp vào.

Gan và thận xử lý collagen khi vào cơ thể như thế nào?

Collagen bản chất là một loại protein dạng sợi đặc biệt. Khi chúng ta uống collagen, đặc biệt là các dạng collagen thủy phân (collagen peptide), cơ thể không hấp thu nguyên vẹn sợi protein lớn này vào máu hay chuyển thẳng đến da. Thay vào đó, hệ tiêu hóa sẽ phân cắt chuỗi polypeptide thành các phân tử peptide nhỏ hơn và các axit amin đơn lẻ như glycine, proline, hydroxyproline.

Quá trình chuyển hóa các axit amin này diễn ra chủ yếu tại gan. Gan chịu trách nhiệm phân loại, sử dụng các axit amin để tái tổng hợp thành các protein cần thiết cho cơ thể hoặc chuyển hóa phần dư thừa. Trong quá trình khử nhóm amin của protein, khí amoniac (NH3) được giải phóng - một chất có độc tính đối với tế bào. Gan nhanh chóng chuyển hóa amoniac thành urê thông qua chu trình urê. Urê là một hợp chất ít độc hơn rất nhiều và tan hoàn toàn trong nước.

Sau khi gan hoàn thành chu trình chuyển hóa, urê được giải phóng vào tuần hoàn máu và di chuyển đến thận. Tại đây, các cầu thận thực hiện chức năng lọc urê ra khỏi máu để đào thải ra ngoài môi trường qua nước tiểu. Do đó, gan và thận là hai mắt xích then chốt trong chuỗi xử lý bất kỳ nguồn protein nào từ thực phẩm hay chất bổ sung. Khi lượng collagen nạp vào ở mức sinh lý vừa phải, hoạt động lọc và chuyển hóa này nằm hoàn toàn trong giới hạn xử lý tự nhiên của cơ thể.

Bằng chứng thực nghiệm: Tác động của collagen lên gan và thận

Để kiểm tra xem collagen peptide có gây độc tế bào gan hoặc làm suy giảm chức năng thận hay không, nhiều nghiên cứu tiền lâm sàng đã được triển khai nhằm đánh giá trực tiếp các chỉ số sinh hóa quan trọng.

Một nghiên cứu thực nghiệm công bố năm 2010 đã khảo sát tác dụng của peptide collagen từ cá biển (Marine Collagen Peptides - MCPs) trên 24 con chuột cống bị tổn thương gan và thận do tiểu đường gây ra bởi alloxan [1]. Các cá thể chuột được chia ngẫu nhiên thành bốn nhóm với các mức can thiệp qua đường dạ dày gồm nhóm đối chứng (0 g/kg) và ba nhóm dùng collagen liều lần lượt là 0,3575 g/kg; 1,0833 g/kg; 3,25 g/kg thể trọng mỗi ngày trong suốt 20 ngày [1].

Kết quả ghi nhận nồng độ men gan ALT trước và sau can thiệp không có sự biến đổi đáng kể, cho thấy collagen không gây độc cho tế bào gan [1]. Đáng chú ý, ở các mức liều 1,0833 g/kg và 3,25 g/kg, nồng độ nitơ urê máu (BUN) - chỉ số phản ánh áp lực lọc của thận - đã giảm rõ rệt [1]. Đồng thời, hoạt tính men chống oxy hóa SOD trong gan tăng lên và nồng độ chất chỉ thị tổn thương màng tế bào MDA giảm đi ở nhóm dùng liều cao nhất (3,25 g/kg), chứng minh collagen biển không những không làm suy yếu gan thận mà còn hỗ trợ bảo vệ cơ quan này nhờ cải thiện hoạt tính chống oxy hóa [1].

Tương tự, một thử nghiệm khác vào năm 2008 đã đánh giá tác động của peptide collagen cá biển trên chuột Sprague-Dawley bị suy giảm chức năng thận mạn tính do nhiễm adenine liều 100 mg/kg [2]. Chuột thí nghiệm được theo dõi liên tục trong 12 tuần với hai mức liều collagen bổ sung là 1,125 g/kg/ngày và 2,25 g/kg/ngày [2]. Ở nhóm chuột bệnh không được bổ sung collagen, chỉ số creatinin huyết thanh (Cr) và nitơ urê máu (BUN) tăng vọt theo thời gian, với nồng độ Cr tuần thứ 5, 8, 12 lần lượt là 182,2; 308,17; 347,57 micromol/l; BUN lần lượt đạt 29,20; 63,03; 95,53 mmol/l; trong khi độ thanh thải creatinin (Ccr) giảm xuống chỉ còn 0,14 ml/phút ở tuần 12 [2].

Ngược lại, ở nhóm được dùng liều collagen 2,25 g/kg/ngày, các chỉ số Cr và BUN duy trì ở mức thấp hơn rất nhiều và độ thanh thải Ccr cao hơn có ý nghĩa thống kê [2]. Cụ thể, nồng độ Cr ở tuần 5, 8, 12 ở nhóm này chỉ là 105,60; 175,40 và 240,14 micromol/l; BUN tương ứng là 23,62; 41,90 và 72,93 mmol/l; Ccr ở tuần 12 đạt 0,26 ml/phút [2]. Kính hiển vi điện tử truyền qua cũng xác nhận tổn thương siêu cấu trúc vi mô tại mô thận được thuyên giảm rõ rệt khi bổ sung collagen liều 2,25 g/kg/ngày [2]. Những dữ liệu này khẳng định việc dung nạp collagen peptide bản thân nó không làm hư hại mô thận mà ngược lại còn giúp làm chậm quá trình suy thoái thận trong mô hình bệnh lý thực nghiệm [2].

Bằng chứng từ thử nghiệm lâm sàng trên người

Các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trên người cũng cung cấp bằng chứng rõ ràng về mức độ dung nạp và tính an toàn của collagen khi bổ sung đều đặn mỗi ngày.

Một thử nghiệm lâm sàng mù đôi, ngẫu nhiên, đa trung tâm, có nhóm đối chứng dùng giả dược được công bố năm 2024 đã đánh giá hiệu quả và độ an toàn của peptide collagen bò trên 100 bệnh nhân thoái hóa khớp gối [3]. Nghiên cứu chia các đối tượng vào 5 nhánh can thiệp trong vòng 90 ngày liên tục, bao gồm: nhóm dùng collagen loại J với liều 2,5 g; 5,0 g; 10,0 g mỗi ngày; nhóm dùng collagen peptide thông thường liều 10,0 g mỗi ngày và nhóm đối chứng dùng 10,0 g giả dược [3].

Sau 3 tháng theo dõi liên tục, nghiên cứu kết luận các mức liều bổ sung từ 2,5 g đến 10,0 g peptide collagen mỗi ngày đều mang lại lợi ích giảm đau, cải thiện chất lượng sống vượt trội và có độ an toàn, khả năng dung nạp rất tốt trên cơ thể người [3]. Liều lượng 10 g peptide collagen mỗi ngày được dung nạp thuận lợi mà không ghi nhận bất kỳ phản ứng bất lợi hay tác dụng phụ gây tổn thương tạng nào [3].

Một thử nghiệm lâm sàng mù đôi khác công bố năm 2025 trên 80 người trưởng thành bị đau khớp gối mạn tính cũng khảo sát tác động của thực phẩm bổ sung chứa collagen thủy phân dùng hàng ngày trong 40 ngày liên tiếp [4]. Kết quả cho thấy nhóm bổ sung collagen có sự cải thiện rõ rệt về cảm giác đau khi thức dậy buổi sáng cũng như sau khi vận động thể lực so với nhóm giả dược [4]. Điểm số chức năng khớp (WOMAC) và chất lượng cuộc sống (SF-36) đều tăng lên, đồng thời việc bổ sung collagen mỗi ngày trong đợt can thiệp được xác nhận là an toàn, dung nạp tốt đối với đối tượng tham gia hoạt động thể lực vừa phải [4].

Tránh nhầm lẫn: Collagen uống và dấu ấn collagen nội sinh trong máu

Nhiều người khi đọc các bài viết y khoa cảnh báo rằng "nồng độ collagen trong máu cao dự báo suy thận hoặc xơ gan" thường hoang mang, lầm tưởng rằng việc uống thực phẩm bổ sung collagen sẽ dẫn tới những căn bệnh nguy hiểm này. Đây là một sự nhầm lẫn tai hại giữa dấu ấn sinh học nội sinh và dinh dưỡng đường uống.

Một nghiên cứu công bố năm 2019 thuộc chương trình Nghiên cứu Đa sắc tộc về Xơ vữa động mạch (MESA) theo dõi 2.492 người từ 45 đến 84 tuổi không có bệnh tim mạch lâm sàng trong thời gian trung vị 9,4 năm [5]. Nghiên cứu theo dõi hai dấu ấn collagen tuần hoàn trong huyết thanh là đoạn telopeptide carboxyl tận cùng của collagen loại I (ICTP) và đoạn propeptide amin tận cùng của procollagen loại III (PIIINP) [5]. Kết quả cho thấy 19,5% người tham gia bị suy giảm chức năng thận (giảm từ 30% eGFR trở lên hoặc tỷ lệ albumin/creatinin niệu từ 30 mg/g trở lên) trong thời gian theo dõi [5]. Nồng độ ICTP và PIIINP huyết thanh ban đầu cao có mối liên quan độc lập với nguy cơ suy giảm chức năng thận trong tương lai, với tỷ lệ mật độ mới mắc tương ứng theo mỗi độ lệch chuẩn là 1,22 và 1,27 [5].

Bản chất của hiện tượng này là gì? Các dấu ấn ICTP và PIIINP trong nghiên cứu trên là sản phẩm phụ được sinh ra từ quá trình xơ hóa vi mô hoặc thoái hóa chất nền ngoại bào bên trong mô thận và tim mạch của người bệnh [5]. Đặc biệt, ICTP là chất được lọc trực tiếp qua cầu thận, nên khi cầu thận bắt đầu tổn thương hoặc quá trình xơ hóa diễn ra mạnh mẽ, chất này sẽ tích tụ lại trong máu [5].

Tương tự, từ năm 1989, các nhà khoa học đã ứng dụng xét nghiệm miễn dịch enzym đo lượng peptide collagen loại IV trong huyết thanh người để phát hiện tình trạng xơ hóa gan [6]. Nghiên cứu xác nhận nồng độ peptide collagen loại IV trong huyết thanh ở bệnh nhân viêm gan mạn tính tiến triển và xơ gan cao hơn rõ rệt so với người khỏe mạnh [6]. Sự gia tăng này xuất phát từ việc tổn thương gan mạn tính do các chất độc kích hoạt phản ứng sinh tổng hợp collagen quá mức tại chỗ, làm lắng đọng các dải sợi collagen xơ cứng gây đảo lộn cấu trúc tiểu thùy gan và dẫn đến suy giảm chức năng tế bào gan cùng tăng áp lực tĩnh mạch cửa [6].

Như vậy, collagen đo được trong các xét nghiệm bệnh lý gan, thận kể trên là "dấu ấn của sự tổn thương và xơ hóa mô nội tạng", hoàn toàn không phải là những phân tử collagen từ thực phẩm bổ sung ngấm nguyên vẹn vào máu [5], [6]. Collagen bạn uống vào bị hệ tiêu hóa bẻ gãy thành các phân tử peptide siêu nhỏ và axit amin tự do trước khi vào máu, do đó không thể "lắng đọng" thành các mảng xơ sẹo trong gan hay thận.

Ai nên thận trọng khi sử dụng collagen dài ngày?

Mặc dù collagen an toàn với người bình thường, nhưng đối với một số nhóm đối tượng nhất định, việc tự ý bổ sung nguồn đạm này có thể tiềm ẩn rủi ro cho sức khỏe:

  • Người có bệnh lý suy thận mạn tính: Khi mức lọc cầu thận đã suy giảm nghiêm trọng, khả năng đào thải các chất chuyển hóa chứa nitơ như urê hay axit uric của thận bị hạn chế rất lớn. Mọi nguồn protein nạp vào ngoài chế độ ăn chuẩn hóa, bao gồm cả collagen, đều làm tăng áp lực lọc cho các nephron còn lại. Người bệnh suy thận cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để tính toán chặt chẽ tổng lượng đạm hàng ngày.
  • Bệnh nhân suy gan giai đoạn nặng: Ở bệnh nhân xơ gan mất bù hoặc suy gan nặng, chu trình urê của gan bị đình trệ, khiến gan không thể chuyển hóa hiệu quả khí amoniac sinh ra từ quá trình khử amin của protein. Sự tích tụ amoniac trong máu có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm là bệnh não gan (hôn mê gan). Do đó, nhóm đối tượng này tuyệt đối không tự ý dùng các thực phẩm bổ sung giàu protein hay axit amin cô đặc.
  • Người có tiền sử sỏi thận oxalate: Một số chuỗi collagen chứa hàm lượng cao axit amin hydroxyproline. Khi vào cơ thể, một phần hydroxyproline có thể chuyển hóa nội sinh thành oxalate. Với những người có cơ địa dễ tạo sỏi canxi oxalate, việc uống collagen liều cao dài ngày có thể làm tăng nhẹ nguy cơ kết tinh sỏi trong đường tiết niệu nếu không uống đủ nước.

Hướng dẫn bổ sung collagen đúng cách để bảo vệ gan, thận

Để tận dụng tối đa lợi ích của collagen mà không gây gánh nặng chuyển hóa không cần thiết cho các cơ quan giải độc và bài tiết, người tiêu dùng nên tuân thủ các nguyên tắc khoa học sau:

  • Lựa chọn liều lượng hợp lý: Các bằng chứng khoa học cho thấy liều dùng collagen peptide hiệu quả cho da và khớp dao động từ 2,5 g đến 10 g mỗi ngày [3]. Không có cơ sở khoa học nào chứng minh rằng uống vượt ngưỡng 10-15 g mỗi ngày sẽ giúp đẹp nhanh hơn; ngược lại, lượng axit amin dư thừa sẽ bị gan chuyển hóa thành năng lượng tích trữ hoặc thải bỏ qua thận, gây lãng phí và tăng công việc cho hai cơ quan này.
  • Chọn dạng collagen thủy phân tinh khiết: Ưu tiên chọn các sản phẩm collagen peptide hoặc collagen thủy phân (hydrolyzed collagen) có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đã qua kiểm định về hàm lượng kim loại nặng và dư lượng phụ gia thực phẩm [3], [4]. Tránh các sản phẩm không rõ thành phần hoặc bị pha trộn tạp chất độc hại có nguy cơ gây viêm gan nhiễm độc.
  • Uống đủ nước: Nước là dung môi thiết yếu để gan thực hiện các phản ứng sinh hóa và giúp thận duy trì dòng chảy lưu thông qua các ống thận, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bài xuất urê và cặn bã chuyển hóa. Hãy đảm bảo uống đủ 1,5 - 2 lít nước mỗi ngày khi dùng collagen.
  • Bổ sung theo chu kỳ: Không nhất thiết phải uống liên tục không ngừng nghỉ từ năm này qua năm khác. Người dùng có thể áp dụng liệu trình uống từ 2 đến 3 tháng (tương tự khoảng thời gian 40-90 ngày được kiểm chứng trong các nghiên cứu lâm sàng) [3], [4], sau đó tạm ngưng 1-2 tháng để cơ thể tự cân bằng và lắng nghe phản hồi từ sức khỏe.

Tóm lại, uống collagen bổ sung với liều chuẩn không gây áp lực bệnh lý hay hủy hoại chức năng gan, thận ở người khỏe mạnh [1], [3]. Điều cốt lõi là sử dụng đúng liều lượng khuyến cáo, duy trì lối sống lành mạnh, uống nhiều nước và luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa nếu bạn đang có sẵn bệnh lý nền về gan hay thận.