Dầu cá hay axit béo omega-3 là một trong những thực phẩm bổ sung phổ biến hàng đầu hiện nay. Nhiều người duy trì thói quen uống đều đặn mỗi ngày nhằm hỗ trợ tim mạch, kiểm soát mỡ máu và giảm các phản ứng viêm trong cơ thể [1, 3]. Dù vậy, không ít người dùng cảm thấy lo ngại trước thông tin cho rằng dầu cá có thể làm loãng máu, dẫn tới việc cơ thể dễ bị bầm tím hoặc tăng nguy cơ xuất huyết khó cầm.

Nhiều bằng chứng y khoa chỉ ra rằng với người khỏe mạnh dùng liều thông thường, việc bổ sung dầu cá không làm tăng đáng kể nguy cơ chảy máu trên thực tế [6, 8]. Tuy nhiên, hoạt chất này có tác động nhất định đến chức năng tiểu cầu [1]. Mối lo ngại chỉ thực sự rõ rệt khi người dùng sử dụng liều rất cao hoặc dùng chung với các thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu cầu [1, 3].

Cơ chế tác động của dầu cá lên quá trình đông máu

Quá trình cầm máu của cơ thể bao gồm nhiều bước phức tạp, trong đó sự kết tập của các tế bào tiểu cầu đóng vai trò tiên quyết nhằm tạo nút chặn bịt kín vết thương mạch máu [2]. Axit béo omega-3 chưa bão hòa (n-3 PUFA), tiêu biểu là axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA), có thể can thiệp vào quá trình này thông qua việc ức chế kết tập tiểu cầu [1, 3, 4]. Một cơ chế tác động kép gồm cả chống tiểu cầu lẫn chống đông máu cũng đã được các nhà khoa học đưa ra xem xét [3].

Các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm (in vitro) ghi nhận axit béo omega-3 có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu liên quan trực tiếp đến nồng độ cAMP nội bào của tiểu cầu [1]. Thử nghiệm trên cơ thể sống (in vivo) cũng cho thấy omega-3 làm giảm kết tập tiểu cầu, nhưng điều thú vị là không gây ảnh hưởng hay kéo dài thời gian chảy máu [1].

Bên cạnh đó, tác động ức chế này còn thể hiện sự khác biệt rõ rệt theo giới tính trong các thử nghiệm lâm sàng [1]. Ở nam giới, EPA làm giảm kết tập tiểu cầu đáng kể so với nhóm dùng giả dược, trong khi DHA không cho thấy hiệu quả này [1]. Ngược lại, ở nữ giới, hoạt chất DHA lại làm giảm kết tập tiểu cầu rõ rệt, còn EPA thì không [1].

Các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn nói gì?

Mặc dù có cơ chế tác động lên tiểu cầu trên lý thuyết, các nghiên cứu lâm sàng diện rộng lại mang đến những bằng chứng rất thuyết phục về độ an toàn của omega-3 đối với vấn đề xuất huyết [5, 6, 8].

Một phân tích tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên được công bố vào năm 2024 đã đánh giá dữ liệu từ tổng cộng 120.643 bệnh nhân tham gia vào 11 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên để xác định mối liên hệ giữa việc dùng omega-3 PUFA và nguy cơ chảy máu [4]. Kết quả tổng hợp chỉ ra không có sự khác biệt về các biến cố chảy máu giữa nhóm dùng omega-3 và nhóm đối chứng (tỷ lệ rủi ro RR 1,09; 95% CI 0,91-1,31; P=0,34) [4]. Tương tự, tỷ lệ đột quỵ xuất huyết não, xuất huyết nội sọ và xuất huyết tiêu hóa giữa hai nhóm đều tương đương nhau [4].

Tuy nhiên, khi phân tích phân nhóm chỉ định trước ở những bệnh nhân dùng EPA tinh khiết liều cao, nguy cơ chảy máu tương đối tăng 50%, nhưng mức tăng nguy cơ tuyệt đối chỉ vỏn vẹn 0,6% so với nhóm dùng giả dược [4]. Nguy cơ chảy máu có liên quan đến liều lượng EPA nạp vào (chênh lệch nguy cơ 0,24; 95% CI 0,05-0,43; P=0,02), nhưng lại không liên quan đến việc bệnh nhân có đang điều trị đồng thời bằng thuốc chống kết tập tiểu cầu hay không [4].

Trước đó, một nghiên cứu đa trung tâm tại Mỹ công bố năm 2012 của Salisbury và cộng sự đã theo dõi 1.523 bệnh nhân tại 24 trung tâm y tế khi bị nhồi máu cơ tim cấp (AMI) [5, 6]. Các nhà nghiên cứu đã đo lường chỉ số omega-3 trong hồng cầu (phản ánh lượng EPA và DHA nạp vào cơ thể qua thời gian dài) và chia bệnh nhân thành ba nhóm: thấp (dưới 4%), trung bình (4-8%) và cao (trên 8%) [5]. Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp vốn có nguy cơ xuất huyết nội viện rất cao do phải điều trị tích cực bằng thuốc chống huyết khối liều mạnh và trải qua các can thiệp xâm lấn [5].

Kết quả cho thấy không hề có sự khác biệt về tỷ lệ chảy máu giữa các mức chỉ số omega-3 này [5]. Sau khi hiệu chỉnh đa biến, chỉ số omega-3 vẫn không liên quan đến biến cố chảy máu nghiêm trọng (RR 1,03 trên mỗi 2% tăng chỉ số; 95% CI 0,90-1,19) hay chảy máu nhẹ đến trung bình (RR 1,02 trên mỗi 2% tăng chỉ số; 95% CI 0,85-1,23) [5]. Nhóm tác giả kết luận mối lo ngại về chảy máu không nên là rào cản ngăn bệnh nhân dùng thực phẩm bổ sung omega-3 hoặc tăng cường ăn cá khi có chỉ định lâm sàng [5].

Nghiên cứu về thiết kế FAVOURED năm 2009 trên nhóm bệnh nhân thận mạn tính cũng chỉ ra rằng axit béo omega-3 được dung nạp tốt ngay cả ở liều cao [6]. Các nghiên cứu trước đó đánh giá tác động của omega-3 đối với thời gian chảy máu đều không tìm thấy sự kéo dài đáng kể [6]. Đồng thời, các bằng chứng lâm sàng còn ghi nhận omega-3 có thể bảo vệ niêm mạc dạ dày chống lại các tổn thương, trợt loét do aspirin hoặc rượu gây ra [6]. Nhờ vậy, việc kết hợp aspirin cùng omega-3 liều 4 g/ngày được kỳ vọng nâng cao hiệu quả phòng ngừa huyết khối nhưng có nguy cơ biến chứng chảy máu thấp hơn so với việc chỉ dùng đơn độc một mình aspirin [6].

Nguy cơ thực sự: Dùng chung với thuốc chống đông liều cao

Trái ngược với sự an toàn được chứng minh ở người bình thường, bức tranh lâm sàng trở nên phức tạp hơn rất nhiều khi dầu cá được sử dụng chung với các thuốc chống đông máu mạnh [1, 3, 4].

Y văn đã ghi nhận trường hợp lâm sàng bệnh nhân lớn tuổi bị tụ máu dưới màng cứng phải phẫu thuật mở hộp sọ sau một cú ngã nhẹ, mà nguyên nhân thúc đẩy nhiều khả năng đến từ việc dùng đồng thời omega-3 liều cao lên tới 6 g/ngày cùng với cả aspirin và warfarin [1, 4]. Báo cáo năm 2017 cũng mô tả một bệnh nhân cao tuổi dùng warfarin kết hợp viên bổ sung dầu cá bị chấn thương sọ não kín, dẫn tới tình trạng rối loạn đông máu do warfarin không thể đảo ngược [7]. Các báo cáo lâm sàng khác cũng chỉ ra việc phối hợp warfarin với omega-3 dẫn tới chỉ số xét nghiệm đông máu INR tăng vọt bất thường [1].

Người cao tuổi vốn là đối tượng có nguy cơ chảy máu nặng rất cao do độ nhạy cảm tăng lên với thuốc chống đông, có nhiều bệnh lý nền đi kèm và phải sử dụng nhiều loại thuốc cùng lúc [3]. Do đó, việc tự ý bổ sung thêm dầu cá không qua kiểm soát trên đối tượng này tiềm ẩn nguy cơ xuất huyết nguy hiểm [1, 3].

Hiểu lầm thường gặp về dầu cá

Một hiểu lầm phổ biến là nhiều người coi dầu cá như một thần dược hoàn toàn vô hại và có thể dùng tùy ý với liều lượng bao nhiêu cũng được [7]. Việc dầu cá được bày bán tự do không kê đơn khiến người dùng dễ xem nhẹ các nguy cơ của nó, đặc biệt là đặc tính ức chế tiểu cầu khi dùng chung với thuốc kê đơn [7].

Hiểu lầm thứ hai là lo ngại vô cớ rằng cứ uống một viên dầu cá mỗi ngày là sẽ bị loãng máu nguy hiểm [2, 6, 8]. Các phân tích khoa học cho thấy các biến cố xuất huyết tự nhiên không tăng lên ở người dùng liều thông thường [4]. Thậm chí ở những tình huống lâm sàng khẩn cấp như nhồi máu cơ tim, lượng omega-3 cao trong tế bào cũng không làm tăng tỷ lệ xuất huyết [5].

Ngoài ra, nhiều người tin rằng dầu cá luôn giải quyết được mọi vấn đề tim mạch. Trên thực tế, bằng chứng khoa học cho thấy tác dụng của omega-3 đối với bệnh rung nhĩ còn gây nhiều tranh cãi, không tìm thấy bằng chứng thuyết phục chứng minh omega-3 ngừa được rối loạn nhịp thất, và việc tiêu thụ omega-3 cũng không giúp giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim tổng thể [2]. Dầu cá còn có nhược điểm là tính kém bền vững, dễ bị oxy hóa dẫn tới khó dung nạp hoặc tăng độc tính nếu bảo quản sai cách [8]. Việc tiêu thụ cá tự nhiên cũng tiềm ẩn nguy cơ nhiễm độc kim loại nặng như thủy ngân, dioxin hoặc dư thừa vitamin tan trong dầu như vitamin A, D, mặc dù các nguy cơ này giảm đáng kể ở các sản phẩm dầu cá tinh chế hoặc nguồn gốc thực vật [8].

Ai nên thận trọng khi uống dầu cá?

Dựa trên khuyến cáo từ các tổ chức y tế quốc tế, những nhóm người sau đây cần đặc biệt thận trọng:

Thứ nhất là người đang sử dụng các thuốc chống đông máu như warfarin hoặc các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) [2]. Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) khuyến cáo người bệnh cần thận trọng tối đa khi kết hợp các loại thuốc này với viên uống bổ sung omega-3 do nguy cơ tương tác làm tăng chảy máu [2].

Thứ hai là những người chuẩn bị trải qua phẫu thuật [2]. Cơ quan Quản lý Sản phẩm Y tế Thụy Điển khuyến nghị những người chuẩn bị phẫu thuật cần thông báo đầy đủ cho bác sĩ điều trị về tất cả các sản phẩm bổ sung mà mình đang dùng để có biện pháp can thiệp kịp thời [2].

Thứ ba là người cao tuổi có nhiều bệnh lý nền, đặc biệt là những người đang phải uống nhiều loại thuốc theo đơn đồng thời [3]. Việc kết hợp nhiều nhóm thuốc chống huyết khối cùng dầu cá có thể khiến các chấn thương va đập nhẹ chuyển biến thành chấn thương xuất huyết nặng nề [1, 3].

Cách dùng dầu cá an toàn và hợp lý

Để phát huy tối đa lợi ích mà không phải lo lắng về nguy cơ chảy máu, người tiêu dùng nên tuân thủ các nguyên tắc dùng an toàn:

  • Liều lượng: Duy trì liều lượng theo đúng khuyến cáo trên nhãn sản phẩm hoặc hướng dẫn của chuyên gia y tế. Liều cao như 4 g/ngày từng được chứng minh là dung nạp tốt trong cải thiện yếu tố nguy cơ tim mạch [6], nhưng mức liều lên tới 6 g/ngày có thể làm tăng rõ rệt nguy cơ xuất huyết khi phối hợp thuốc [3]. Tác dụng phụ thường gặp nhất của dầu cá thực chất là rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy và khó chịu vùng bụng chứ không phải chảy máu [6].
  • Kiểm soát tương tác: Tuyệt đối không tự ý kết hợp viên dầu cá với các loại thuốc làm loãng máu, thuốc chống đông (như warfarin) hay aspirin khi chưa có sự đồng ý của bác sĩ chuyên khoa [1, 2, 4].
  • Lựa chọn sản phẩm: Ưu tiên các loại chế phẩm dầu cá tinh chế để loại bỏ tạp chất, chất độc môi trường và tránh tình trạng dầu bị oxy hóa hư hỏng trong quá trình sử dụng [8].

Việc uống một viên dầu cá mỗi ngày là thói quen an toàn cho phần lớn người khỏe mạnh bình thường và không làm tăng nguy cơ chảy máu nghiêm trọng [4]. Tuy nhiên, nếu bạn đang mắc bệnh tim mạch, chuẩn bị phẫu thuật hoặc đang dùng thuốc điều trị theo toa, hãy trao đổi trực tiếp với bác sĩ để có liều lượng bổ sung an toàn nhất [1, 2].