Nhiều gia đình chăm sóc người mắc bệnh Alzheimer thường tìm kiếm các chất bổ sung chống oxy hóa với hy vọng làm chậm sự suy giảm trí nhớ của người thân. Vitamin E, đặc biệt là dạng alpha-tocopherol liều cao, từng được kỳ vọng là giải pháp bảo vệ tế bào thần kinh trước sự thoái hóa. Tuy nhiên, việc sử dụng các chế phẩm này ở liều dược lý lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng.
Các phân tích y khoa hiện tại cho thấy bằng chứng về hiệu quả làm chậm suy giảm nhận thức của vitamin E liều cao vẫn chưa thực sự thuyết phục, trong khi nguy cơ đột quỵ xuất huyết não và tử vong sớm khiến giới chuyên môn không khuyến nghị sử dụng rộng rãi [5, 8].
Cơ chế chống oxy hóa và tổn thương thần kinh
Căng thẳng oxy hóa được xem là một trong những yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh của nhiều rối loạn thần kinh trung ương ở người cao tuổi [1]. Các gốc tự do độc hại gây tổn thương màng tế bào, thúc đẩy quá trình thoái hóa nơ-ron và góp phần làm trầm trọng thêm các tổn thương do mảng bám beta-amyloid trong bệnh Alzheimer [4, 8].
Vitamin E (alpha-tocopherol) là chất chống oxy hóa hòa tan trong lipid có khả năng tương tác mạnh với màng tế bào [2]. Hợp chất này có nhiệm vụ dọn dẹp các gốc tự do độc hại, từ đó ngắt chuỗi phản ứng dẫn đến tổn hại nơ-ron thần kinh [6, 8]. Nhờ đặc tính này, vitamin E đã được đưa vào thử nghiệm lâm sàng ở liều dược lý nhằm bảo vệ hệ thần kinh trung ương [1, 8].
Bằng chứng ban đầu về khả năng làm chậm bệnh
Sự quan tâm dành cho alpha-tocopherol liều cao bắt nguồn từ các thử nghiệm lâm sàng vào cuối thập niên 1990. Nghiên cứu của nhóm Hợp tác Bệnh Alzheimer (ADCS) thực hiện trên 341 bệnh nhân Alzheimer mức độ vừa, được đánh giá trên thang điểm Clinical Dementia Rating (CDR) bậc 2 [6, 8]. Thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, mù đôi này kiểm tra liều dùng 2000 IU vitamin E mỗi ngày hoặc dùng phối hợp selegiline trong thời gian theo dõi 2 năm [2].
Tiêu chí đánh giá chính là thời gian sống đến khi xuất hiện biến cố đầu tiên trong 4 tiêu chí: tử vong, phải chuyển vào viện dưỡng lão, mất chức năng thực hiện 2 trong 3 hoạt động sống cơ bản hàng ngày, hoặc tiến triển sang sa sút trí tuệ nghiêm trọng (CDR bậc 3) [3, 6, 8].
Kết quả cho thấy ở nhóm hoàn thành nghiên cứu, tỷ lệ gặp các biến cố trên ở nhóm dùng vitamin E là 58% (45/77 người), thấp hơn so với tỷ lệ 74% (58/78 người) ở nhóm dùng giả dược [6, 7]. Khi phân tích có hiệu chỉnh mức độ sa sút trí tuệ ban đầu, vitamin E cho thấy khả năng làm chậm đáng kể thời gian dẫn đến các biến cố tiêu cực trên [3].
Ngoài ra, một số dữ liệu quan sát chỉ ra chế độ ăn giàu vitamin E và C, hoặc dùng kết hợp hai loại vitamin này ở liều cao, có liên quan đến việc giảm tỷ lệ hiện mắc và mới mắc sa sút trí tuệ Alzheimer ở người cao tuổi [3, 4].
Những nghiên cứu không ghi nhận hiệu quả
Dù có các kết quả ban đầu khả quan, nhiều thử nghiệm sau đó lại không xác nhận được lợi ích của vitamin E. Thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược của ADCS trên 769 bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) đã so sánh liều vitamin E 2000 IU mỗi ngày với donepezil 10 mg mỗi ngày trong 3 năm [4]. Mục tiêu chính là giảm tỷ lệ chuyển biến từ MCI sang Alzheimer từ mức dự kiến 45% xuống 30% [4].
Kết quả ghi nhận tốc độ chuyển biến thực tế là 16% mỗi năm [4]. Trong khi donepezil giảm nguy cơ tiến triển thành Alzheimer trong 18 tháng đầu, vitamin E hoàn toàn không mang lại hiệu quả điều trị nào so với giả dược [4].
Một tổng quan năm 2016 chỉ ra rằng cơ sở dữ liệu hiện tại về vitamin E trong bệnh Alzheimer chỉ gói gọn trong 3 nghiên cứu trên bệnh nhân Alzheimer và 1 nghiên cứu trên bệnh nhân MCI, với tổng cộng 1.756 người tham gia [2]. Trong đó, 2 nghiên cứu cho kết quả âm tính, còn 2 nghiên cứu cho kết quả dương tính lại vấp phải những điểm yếu nghiêm trọng về mặt phương pháp luận, khiến kết quả không đủ độ tin cậy để khẳng định hiệu quả điều trị [2].
Các tổng quan hệ thống cũng khẳng định một khi bệnh đã khởi phát, việc đảo ngược tiến trình tổn thương thông qua các chất chống oxy hóa đơn thuần là khó khả thi về mặt cơ chế [3].
Rủi ro xuất huyết não và tử vong khi dùng liều cao
Trở ngại lớn nhất của liệu pháp alpha-tocopherol liều cao không chỉ nằm ở hiệu quả thiếu đồng nhất mà còn ở tính an toàn. Dù vitamin E liều từ 50-800 mg/ngày trong một phân tích gộp trên 118.765 bệnh nhân mạch máu não cho thấy có tác dụng giảm nhẹ biến cố đột quỵ thiếu máu cục bộ, chất này lại làm tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng khác [2].
Các ghi nhận từ bệnh nhân có bệnh lý mạch máu não cho thấy vitamin E có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng là đột quỵ xuất huyết não (hemorrhagic stroke) [2]. Chính vì nguy cơ xuất huyết não này, các đánh giá y khoa hiện đại khẳng định vitamin E không thể được khuyến nghị sử dụng cho bệnh nhân Alzheimer [2].
Bên cạnh nguy cơ xuất huyết não, một phân tích gộp đã chỉ ra rằng việc bổ sung vitamin E liều cao có thể làm tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và do đó cần phải tránh [4]. Thậm chí trong thử nghiệm lâm sàng năm 1997 của ADCS, nhóm bệnh nhân dùng vitamin E có tỷ lệ bị té ngã cao hơn rõ rệt so với nhóm dùng giả dược, với 12/77 người gặp sự cố so với 4/78 người ở nhóm chứng (tỷ số chênh odds ratio lên tới 3,0) [5].
Dù việc dùng 2000 IU/ngày được ghi nhận là tương đối an toàn trong các đợt dùng ngắn hạn dưới 2 năm, độ an toàn và hiệu quả khi bổ sung kéo dài nhiều năm trên các bệnh lý thần kinh vẫn chưa được làm rõ đầy đủ [1].
Những hiểu lầm thường gặp
Nhiều người lầm tưởng rằng vitamin E là chất bổ dưỡng lành tính nên dùng liều càng cao sẽ càng bảo vệ não bộ tốt hơn. Trên thực tế, vitamin E liều cao (từ 2000 IU/ngày) hoạt động như một loại thuốc tác động mạnh đến quá trình đông máu và tính bền vững của thành mạch, làm tăng khả năng chảy máu trong sọ [2].
Một ngộ nhận khác là vitamin E có thể đảo ngược hoặc chữa khỏi các tổn thương trí nhớ của Alzheimer. Các bằng chứng thực tế cho thấy vitamin E không thể đảo ngược tình trạng bệnh sau khi các tổn thương thoái hóa đã hình thành [3]. Hơn nữa, việc phối hợp các vitamin cần sự cẩn trọng; một số nghiên cứu cho rằng nếu dùng vitamin E liều cao thì cần phải bổ sung thêm vitamin C để hỗ trợ, nhưng liều lượng chính xác và an toàn vẫn chưa được xác định rõ [6].
Ai nên thận trọng?
Bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer hoặc suy giảm nhận thức nhẹ tuyệt đối không tự ý bổ sung vitamin E liều cao (trên 400 IU/ngày và đặc biệt là mức 2000 IU/ngày) mà không có chỉ định từ bác sĩ chuyên khoa [1, 5, 8].
Những người có tiền sử bệnh lý mạch máu não, có nguy cơ đột quỵ xuất huyết não hoặc đang sử dụng các thuốc chống đông máu, thuốc chống kết tập tiểu cầu cần đặc biệt tránh xa vitamin E liều cao do nguy cơ tương tác làm tăng biến cố chảy máu nguy hiểm [2].
Bệnh nhân cao tuổi có thể trạng yếu, có nguy cơ té ngã cao cũng cần cẩn trọng tối đa, vì dữ liệu lâm sàng cho thấy biến cố té ngã tăng lên ở nhóm dùng alpha-tocopherol liều cao [5]. Người có bệnh nền cần luôn tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị trước khi dùng bất kỳ chế phẩm bổ sung nào.
Gợi ý áp dụng thực tế
Thay vì tìm kiếm các viên uống bổ sung liều cao tiềm ẩn rủi ro xuất huyết, giải pháp an toàn và bền vững nhất được khoa học khuyến khích là bổ sung vitamin E qua chế độ ăn uống tự nhiên [6].
Một chế độ ăn giàu vitamin E và vitamin C từ thực phẩm có thể giúp hỗ trợ giảm nguy cơ suy giảm nhận thức mà không gây ra tác dụng phụ tiêu cực [3, 4]. Các nguồn cung cấp tự nhiên an toàn bao gồm các loại hạt, dầu thực vật, rau lá xanh và ngũ cốc nguyên hạt.
Bên cạnh dinh dưỡng, người bệnh cần duy trì lối sống lành mạnh, uống đủ nước, vận động thể chất đều đặn và tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị nội khoa tiêu chuẩn từ bác sĩ chuyên khoa thần kinh.
Việc sử dụng vitamin E liều cao trong điều trị Alzheimer cho thấy cán cân rủi ro đang nghiêng nhiều hơn về phía bất lợi. Dù từng được kỳ vọng làm chậm suy giảm chức năng, nguy cơ đột quỵ xuất huyết não và tăng tỷ lệ tử vong khiến liệu pháp này không còn được khuyến nghị. Ưu tiên chế độ dinh dưỡng cân bằng và tham vấn y khoa là hướng đi đúng đắn nhất để bảo vệ sức khỏe người bệnh.






