Nhiều cha mẹ băn khoăn chọn thời điểm cho con ăn dặm. Mốc 4 tháng hay 6 tháng mang lại nhiều lợi ích hơn cho trẻ nhỏ là câu hỏi thường trực. Dữ liệu y khoa chỉ ra mốc 6 tháng an toàn hơn cho hệ tiêu hóa và miễn dịch của trẻ [1], [2].

Trẻ tròn 6 tháng tuổi nhận đủ dinh dưỡng hoàn toàn từ sữa mẹ hoặc sữa công thức trong giai đoạn đầu đời [1]. Việc cho ăn dặm trước 4 tháng hoặc trong khoảng 4 đến 6 tháng tuổi tiềm ẩn nhiều nguy cơ mắc bệnh đường ruột và nhiễm khuẩn hơn [1], [3], [2].

Cơ chế sinh học của hệ tiêu hóa trẻ sơ sinh

Trước 6 tháng tuổi, đường ruột của trẻ chưa hoàn thiện lớp màng bảo vệ niêm mạc. Khả năng tiết enzyme tiêu hóa tinh bột, chất đạm phức tạp còn rất hạn chế. Sữa mẹ cung cấp kháng thể tự nhiên giúp che phủ niêm mạc ruột non [1].

Đưa thức ăn đặc vào sớm làm tăng nguy cơ vi khuẩn xâm nhập gây tiêu chảy [3], [2]. Thức ăn dặm lạ cũng gây kích ứng đường ruột non nớt. Thận của trẻ chưa đủ khả năng lọc lượng chất tan cao từ thức ăn thô, làm tăng tải áp lực bài tiết.

Nguy cơ bệnh tật từ các nghiên cứu lâm sàng

Một nghiên cứu đoàn hệ tại Iran trên 200 trẻ (100 trẻ bú mẹ hoàn toàn 6 tháng và 100 trẻ ăn bổ sung từ 4-6 tháng) kiểm tra tỷ lệ mắc bệnh [2]. Kết quả ghi nhận nhóm ăn dặm từ 4-6 tháng có tỷ lệ tiêu chảy là 27%, cao hơn nhiều mức 11% ở nhóm bú mẹ hoàn toàn [2]. Tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp nhóm ăn dặm sớm cũng cao hơn (35% so với 23%) [2].

Nghiên cứu theo dõi tiến cứu tại Nigeria trên 352 cặp mẹ con cho thấy trẻ ăn dặm trước 4 tháng có trung bình 1,4 đợt bệnh tật mỗi trẻ [3]. Nhóm ăn dặm giai đoạn 4-6 tháng ghi nhận 1,2 đợt bệnh mỗi trẻ [3]. Ngược lại, nhóm bú mẹ hoàn toàn 6 tháng chỉ ghi nhận 0,1 đợt bệnh mỗi trẻ [3]. Các triệu chứng phổ biến gồm sốt, tiêu chảy và ho [3].

Phân tích từ nghiên cứu IFPS-II năm 2020 nhấn mạnh thức ăn dặm làm tăng nguy cơ tổn hại sức khỏe ở trẻ sơ sinh [1]. Thức ăn đặc đưa vào trước 4 đến 6 tháng gây nguy cơ lớn hơn cả việc dùng sữa công thức đơn thuần [1]. Trẻ ăn sữa công thức hoặc ăn kết hợp bị tăng tỷ lệ phân cứng và ho/khò khè [1].

Tăng trưởng và phát triển hành vi ăn uống

Nghiên cứu Greenlight năm 2021 trên 469 trẻ theo dõi tốc độ tăng cân nhanh trước 12 tháng tuổi [4]. Kết quả cho thấy trì hoãn ăn dặm sau 4 tháng giúp giảm nguy cơ tăng nhanh chỉ số cân nặng theo chiều dài (aOR 0,64; 95% CI: 0,42 - 0,96) [4]. Bú mẹ từ 2 đến 6 tháng cũng làm giảm nguy cơ tăng nhanh cân nặng theo tuổi so với dùng sữa công thức (aOR 0,34; 95% CI: 0,17 - 0,69) [4].

Nghiên cứu năm 2017 tại Ấn Độ trên 403 trẻ sinh non (dưới 34 tuần thai) so sánh mốc ăn dặm 4 tháng và 6 tháng tuổi hiệu chỉnh [5]. 206 trẻ ăn dặm lúc 4 tháng và 197 trẻ ăn lúc 6 tháng [5]. Sau 12 tháng tuổi hiệu chỉnh, chỉ số WAZ không có sự khác biệt giữa hai nhóm (-1,6 ở nhóm 4 tháng so với -1,6 ở nhóm 6 tháng, p=0,965) [5]. Tuy nhiên, nhóm ăn dặm từ 4 tháng ghi nhận số ca nhập viện nhiều hơn [5].

Thử nghiệm năm 2016 trên 41 trẻ uống sữa công thức (21 trẻ ăn dặm lúc 4-6 tháng và 20 trẻ ăn dặm lúc 6 tháng) không tìm thấy khác biệt về tăng trưởng thể chất giữa hai nhóm [6]. Tuy nhiên, đến 12 tháng tuổi, nhóm ăn dặm lúc 6 tháng ít kén ăn hơn [6]. Đến 15 tháng tuổi, nhóm bắt đầu lúc 6 tháng ít phụ thuộc bú bình hơn và chấp nhận thức ăn tốt hơn [6]. Dù vậy, nhiễm trùng hô hấp ở giai đoạn 10-12 tháng xuất hiện nhiều hơn ở nhóm ăn dặm muộn trong nghiên cứu quy mô nhỏ này [6].

Hiểu lầm thường gặp của cha mẹ

Nhiều phụ huynh cho rằng cho ăn dặm sớm giúp trẻ ngủ sâu giấc hơn vào ban đêm. Nghiên cứu thực tế chỉ ra tỷ lệ bú đêm và bú bình ở mốc 12 tháng giữa nhóm ăn lúc 4-6 tháng và nhóm ăn lúc 6 tháng không khác biệt [6]. Ăn sớm không giúp trẻ bỏ bú đêm hay ngủ ngoan hơn [6].

Khảo sát BeeBOFT năm 2019 tại Hà Lan trên 2.157 trẻ cho thấy 21,4% trẻ bị cho ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi [7]. Niềm tin sai lầm của cha mẹ rằng "con luôn muốn ăn mỗi khi nhìn thấy người khác ăn" là yếu tố liên quan độc lập khiến trẻ bị cho ăn quá sớm [7]. Nghiên cứu tại Pháp năm 2005 cũng ghi nhận 52% bà mẹ cho trẻ ăn dặm trước 4 tháng, trong đó trẻ dùng sữa công thức dễ bị cho ăn sớm hơn trẻ bú mẹ (57% so với 33%) [8].

Nhiều người lầm tưởng ăn dặm sớm giúp con tăng cân vượt trội. Dữ liệu thực nghiệm xác nhận ăn dặm từ 4 tháng không làm tăng chỉ số cân nặng tốt hơn mốc 6 tháng [5], [2]. Trẻ bú mẹ hoàn toàn 6 tháng vẫn duy trì mức cân nặng trên phân vị thứ 50 theo chuẩn tăng trưởng WHO [3].

Ai nên thận trọng khi thay đổi thời điểm ăn dặm?

Trẻ sinh non dưới 34 tuần thai kỳ cần được tính tuổi theo ngày dự sinh (tuổi hiệu chỉnh) thay vì tuổi thực sau sinh [5]. Việc ép trẻ sinh non ăn dặm quá sớm làm tăng tỷ lệ nhập viện điều trị bệnh [5]. Cha mẹ cần tham vấn bác sĩ chuyên khoa nhi để đánh giá độ cứng cáp của trẻ sinh non trước khi bắt đầu.

Trẻ nuôi bằng sữa công thức đối mặt nguy cơ bị ép ăn dặm sớm hơn [8]. Phụ huynh nuôi con bằng sữa ngoài cần đặc biệt kiên trì, không tự ý cho ăn dặm trước 4 tháng nếu không có chỉ định y khoa [1], [8]. Trẻ có tiền sử dị ứng hoặc gia đình có cơ địa dị ứng cần được bác sĩ đánh giá kỹ khả năng dung nạp thức ăn trước khi thử các món mới.

Hướng dẫn thực hành ăn dặm đúng thời điểm

Thời điểm lý tưởng để trẻ bắt đầu ăn dặm là khi tròn 6 tháng tuổi. Trẻ sẵn sàng ăn dặm khi có các dấu hiệu thể chất: tự giữ vững đầu cổ, có thể ngồi vững khi có trợ giúp, giảm phản xạ đẩy lưỡi và chủ động há miệng đón thìa.

Bắt đầu bằng một lượng nhỏ, khoảng 1 đến 2 thìa cà phê mỗi bữa, từ loãng đến đặc dần. Giữ nguyên một món mới trong 2-3 ngày để theo dõi phản ứng tiêu hóa hoặc dị ứng. Sữa mẹ hoặc sữa công thức vẫn là nguồn cung cấp năng lượng chính trong suốt năm đầu đời.

Tránh cho trẻ dưới 6 tháng tuổi tiếp xúc với nước ngọt, bánh kẹo hoặc đồ ăn vặt [7]. Không nêm muối, đường hay gia vị nhân tạo vào thức ăn của trẻ nhỏ. Luôn đảm bảo vệ sinh dụng cụ chế biến để tránh vi khuẩn gây rối loạn tiêu hóa và sốt [3].

Chọn mốc 6 tháng tuổi để bắt đầu cho trẻ ăn dặm giúp giảm thiểu nguy cơ tiêu chảy và các đợt nhiễm bệnh [3], [2]. Sự kiên nhẫn của cha mẹ giúp xây dựng nền tảng tiêu hóa khỏe mạnh và thói quen ăn uống tốt cho con sau này [6]. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ nhi khoa khi có bất kỳ nghi ngờ nào về sự phát triển của trẻ.