Nhiều người truyền tai nhau dùng bát giác liên sắc uống để chữa ung thư. Đây là thảo dược quen thuộc trong dân gian nhưng tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc nghiêm trọng. Việc tự ý tìm mua và sử dụng thảo dược này làm thuốc uống tại nhà là hành vi rất nguy hiểm.

Dược liệu bát giác liên hoàn toàn chưa được kiểm chứng hiệu quả và an toàn trên cơ thể người bệnh. Dù chứa chất ức chế tế bào ác tính trong phòng thí nghiệm, độc tính toàn thân quá lớn khiến cây chưa bao giờ trở thành thuốc uống trực tiếp.

Cơ chế tác động của hoạt chất trong bát giác liên

Bát giác liên chứa hoạt chất chính mang tên podophyllotoxin cùng các lignan liên quan [1]. Podophyllotoxin có khả năng gắn kết và can thiệp vào cấu trúc tế bào ung thư, gây độc tế bào mạnh mẽ [1, 8]. Các dẫn xuất của hợp chất này có thể liên kết với miền ATPase của enzym Topoisomerase-II để ngăn cản quá trình nhân đôi của khối u [2].

Bên cạnh đó, dịch chiết bát giác liên còn tác động thông qua con đường truyền tín hiệu nội bào. Cụ thể, các thành phần ức chế con đường truyền tín hiệu Wnt, làm giảm mức biểu hiện của các phân tử Wnt và beta-catenin [3]. Điều này kích hoạt chu trình chết tự nhiên của tế bào ác tính và ngăn chặn sự phát triển mô bệnh [2, 6, 7].

Bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm

Nhiều công trình quốc tế đã tìm cách phân tách và đánh giá dược lực học của thảo dược này trên mô hình in vitro và động vật.

Năm 2013, nghiên cứu phân lập thành công 4 dẫn xuất lignan từ cây Dysosma versipellis gồm 4'-demethylpodophyllotoxin, alpha-peltatin, podophyllotoxin và beta-peltatin [1]. Toàn bộ các chất này đều thể hiện hoạt tính độc tế bào mạnh chống lại dòng tế bào ung thư gan người HepG2 [1].

Trước đó vào năm 2011, một nghiên cứu phân lập 15 hợp chất từ rễ Dysosma versipellis và thử nghiệm trên các dòng tế bào PC3, Bcap-37 và BGC-823 bằng phương pháp MTT [4]. Kết quả ghi nhận podophyllotoxone và 4'-demethyldeoxypodophyllotoxin ức chế mạnh tế bào ung thư [4]. Ở nồng độ 20 micromol/L sau 72 giờ, tỷ lệ gây chết tế bào theo chương trình đạt 12,0% trên dòng PC3 và 14,1% trên dòng Bcap-37 [4].

Cũng trong năm 2011, một nhóm nghiên cứu tổng hợp 7 dẫn xuất benzylamino của podophyllotoxin và đo hoạt tính diệt tế bào A549, HCT-116, HepG2 [5]. Dẫn xuất ký hiệu 8b có độc tính tế bào cao nhất với giá trị IC50 trung bình đạt mức 3,8 micromol/L [5].

Năm 2018, thử nghiệm tổng hợp 16 dẫn xuất podophyllotoxin dạng dimer ghi nhận hợp chất 29 có hoạt tính rất cao trên 5 dòng tế bào với IC50 từ 0,43 đến 3,50 micromol/L [6]. Chất này có chỉ số chọn lọc trên tế bào ung thư cao gấp 4,4 đến 35 lần so với dòng tế bào biểu mô phế quản người bình thường BEAS-2B [6].

Năm 2019, nghiên cứu đánh giá các dẫn xuất glucoside của podophyllotoxin trên 5 dòng ung thư gồm HL-60, SMMC-7721, A-549, MCF-7 và SW480 [7]. Dẫn xuất 6b thể hiện độc tính tế bào mạnh nhất với IC50 từ 3,27 đến 11,37 micromol/L, vượt trội hơn cả thuốc đối chứng etoposide trên dòng MCF-7 và SW480 [7].

Cũng trong năm 2019, một dẫn xuất gắn biotin (hợp chất 15) được chứng minh có IC50 từ 0,13 đến 0,84 micromol/L trên 5 dòng tế bào thử nghiệm [2]. Trên chuột nhắt mang khối u S180, liều tiêm 20 mg/kg của hợp chất này giúp ức chế đáng kể sự phát triển khối u [2].

Năm 2021, nghiên cứu trên chuột mang khối u thực quản cho thấy dịch chiết Dysosma versipellis làm giảm khối lượng u còn 0,20 g so với 0,38 g ở nhóm đối chứng [3]. Hoạt chất podophyllotoxin thử nghiệm trên dòng ung thư biểu mô thực quản ghi nhận giá trị IC50 ở mức 0,2 micromol/L [3].

Năm 2022, nghiên cứu nấm nội sinh trên cây Dysosma difformis thu thập tại Hà Giang và Lai Châu tìm thấy 53 chủng nấm [8]. Chiết xuất từ 6 chủng nấm thuộc các chi Penicillium, Trametes, Purpureocillium, Aspergillus và Ganoderma chứa podophyllotoxin và thể hiện hoạt tính diệt tế bào SK-LU-1, HL-60, HepG2 với IC50 dưới 10 microgram/mL [8].

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm tới cơ thể người

Dù các kết quả thử nghiệm cho thấy tiềm năng tiêu diệt khối u, toàn bộ dữ liệu mới chỉ dừng ở mức ống nghiệm và chuột [1, 6, 7]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên người chứng minh uống thảo dược này có thể chữa khỏi ung thư.

Nguyên nhân chính là podophyllotoxin tự nhiên có độc tính toàn thân rất cao [6]. Hóa chất này tấn công cả tế bào ung thư lẫn tế bào khỏe mạnh bình thường, gây tác dụng phụ nghiêm trọng [5, 8]. Các nhà khoa học phải tìm cách biến đổi cấu trúc hóa học hoặc tổng hợp dẫn xuất mới để tăng độ chọn lọc và giảm bớt độc hại [3, 5, 6, 8].

Hiểu lầm thường gặp về bát giác liên

Sai lầm phổ biến nhất là đánh đồng dược liệu thô với thuốc điều trị ung thư hiện đại. Thuốc etoposide dùng trong bệnh viện bắt nguồn từ dẫn xuất của podophyllotoxin đã qua tinh chế và biến đổi cấu trúc phân tử [5, 8]. Dùng củ hay lá bát giác liên tươi/khô hoàn toàn khác với việc dùng thuốc chuẩn hóa [1, 8].

Nhiều người tin rằng thảo dược thiên nhiên thì không độc hại. Thực tế, podophyllotoxin là một chất kịch độc [6]. Việc tự ý sắc uống bát giác liên nồng độ cao có thể dẫn tới tổn thương gan thận, ức chế tủy xương và suy hô hấp đe dọa tính mạng.

Ai cần thận trọng tuyệt đối

Bệnh nhân đang điều trị ung thư tuyệt đối không tự ý uống nước sắc bát giác liên thay phác đồ y khoa. Tự điều trị thảo dược độc làm lỡ mất giai đoạn vàng phẫu thuật hay hóa trị của người bệnh.

Người mắc bệnh lý nền về gan, suy thận, phụ nữ mang thai hoặc trẻ nhỏ cần tránh xa thảo dược này. Độc tố tích tụ từ podophyllotoxin có thể nhanh chóng gây suy đa tạng không thể hồi phục.

Ứng dụng thực tế và lời khuyên y học

Hiện nay y học hiện đại chỉ dùng podophyllotoxin làm nguyên liệu bán tổng hợp các thuốc chống khối u như etoposide [6]. Ngoài ra, trong y học cổ truyền Trung Quốc, cây từng được dùng xử lý rắn cắn, suy nhược hay sùi mào gà [1].

Người bệnh không tự mua rễ hay củ bát giác liên trôi nổi để tự đun sắc uống [4]. Hãy tuân thủ hướng dẫn điều trị của bác sĩ chuyên khoa ung bướu và báo ngay cho nhân viên y tế nếu nghi ngờ người thân có dấu hiệu dùng nhầm dược liệu độc.

Bát giác liên là nguồn dược liệu quý cung cấp tiền chất cho hóa học dược liệu hiện đại [1, 4]. Tuy nhiên, dược chất thô trong cây chứa độc tính hủy hoại tế bào rất lớn khi chưa được tinh chế [6]. Người dân cần tỉnh táo trước các bài thuốc truyền miệng, tuyệt đối không đánh cược mạng sống vào những phương thuốc chưa có bằng chứng lâm sàng.