Nhiều người mắc đái tháo đường type 2 thường tìm kiếm các loại thực phẩm bổ sung với hy vọng kiểm soát đường huyết tốt hơn. Trong đó, dầu cá chứa axit béo omega-3 là lựa chọn phổ biến hàng đầu nhờ danh tiếng bảo vệ tim mạch.

Tuy nhiên, câu trả lời trực tiếp từ các bằng chứng khoa học là: omega-3 không giúp cải thiện chỉ số đường huyết hay chỉ số HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Giá trị thực sự của dưỡng chất này nằm ở khả năng hỗ trợ cải thiện rối loạn lipid máu, đặc biệt là giảm nồng độ chất béo trung tính (triglyceride) [1], [2].

Bản chất tác động của omega-3 đối với cơ thể người bệnh

Bệnh đái tháo đường type 2 là một rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết trong bối cảnh đề kháng insulin và suy giảm chức năng tế bào beta tuyến tụy [1]. Tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới [1]. Chế độ ăn uống hàng ngày đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và điều trị căn bệnh này [1].

Axit béo omega-3 là nhóm chất béo không bão hòa đa, nổi bật gồm axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA). Khi đi vào cơ thể, omega-3 tham gia điều hòa chuyển hóa lipid tại gan, làm giảm sự tổng hợp triglyceride và lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL) [2]. Ngược lại, omega-3 không trực tiếp kích thích bài tiết insulin hay sửa chữa tình trạng suy giảm hoạt động của thụ thể insulin tại mô ngoại vi [2].

Do cơ chế tác động chủ yếu khu trú ở chuyển hóa mỡ máu, việc kỳ vọng omega-3 hoạt động như một loại thuốc hạ đường là sai lệch bản chất sinh học. Người bệnh cần hiểu đúng vai trò của dưỡng chất này để không đặt kỳ vọng nhầm chỗ.

Các tổng quan hệ thống quy mô lớn nói gì?

Để đánh giá chính xác tác động của omega-3, các phân tích gộp từ nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) cung cấp góc nhìn toàn diện nhất.

Một phân tích gộp công bố năm 2015 đã tổng hợp dữ liệu từ 20 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nhằm đánh giá hiệu quả của omega-3 lên kiểm soát glucose và mỡ máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 [1]. Kết quả cho thấy ở những bệnh nhân bổ sung omega-3, nồng độ triglyceride giảm đáng kể 0,24 mmol/L [1]. Tuy nhiên, nghiên cứu không ghi nhận sự thay đổi rõ rệt nào đối với chỉ số cholesterol toàn phần, chỉ số HbA1c, glucose huyết tương lúc đói, glucose sau ăn, chỉ số khối cơ thể (BMI) hay cân nặng [1].

Đáng chú ý, phân tích năm 2015 này cũng chỉ ra rằng ở nhóm đối tượng người châu Á, mức glucose huyết tương lúc đói (FPG) lại tăng nhẹ 0,42 mmol/L khi dùng omega-3 [1]. Tỷ lệ EPA/DHA cao có xu hướng làm giảm insulin huyết tương, HbA1c, cholesterol toàn phần và BMI, nhưng các xu hướng này đều không đạt ý nghĩa thống kê, ngoại trừ việc giảm triglyceride [1].

Trước đó, một tổng quan hệ thống của tổ chức Cochrane công bố năm 2008 đã phân tích 23 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng với tổng cộng 1.075 người tham gia [2]. Thời gian can thiệp trung bình của các nghiên cứu là 8,9 tuần, với liều dùng omega-3 trung bình đạt 3,5 g/ngày [2].

Kết quả từ phân tích Cochrane năm 2008 cho thấy ở những người dùng axit béo không bão hòa đa omega-3, mức triglyceride giảm mạnh 0,45 mmol/L (khoảng tin cậy 95% CI: -0,58 đến -0,32, p < 0,00001) [2]. Cholesterol VLDL cũng giảm 0,07 mmol/L (95% CI: -0,13 đến 0,00, p = 0,04) [2]. Ngược lại, mức LDL-cholesterol (cholesterol "xấu") lại tăng nhẹ 0,11 mmol/L (95% CI: 0,00 đến 0,22, p = 0,05) [2]. Tương tự như phân tích năm 2015, tổng quan năm 2008 không ghi nhận thay đổi có ý nghĩa thống kê đối với cholesterol toàn phần, HDL-cholesterol, chỉ số HbA1c, glucose lúc đói, insulin lúc đói hay trọng lượng cơ thể [2]. Sự sụt giảm VLDL chỉ duy trì ý nghĩa thống kê ở các nghiên cứu kéo dài hơn và trên bệnh nhân có tăng triglyceride máu [2]. Đồng thời, tổng quan không tìm thấy thử nghiệm nào có tiêu chí đánh giá về biến cố mạch máu hoặc tỷ lệ tử vong [2].

Kết quả từ các thử nghiệm can thiệp riêng lẻ

Bên cạnh các phân tích gộp, các nghiên cứu can thiệp đơn lẻ qua nhiều thập kỷ cũng đem lại các dữ liệu đa chiều về liều lượng và thời gian sử dụng.

Một nghiên cứu công bố năm 1988 đã theo dõi 22 bệnh nhân đái tháo đường type 2 không bị tăng lipid máu rõ rệt trong 8 tuần dùng dầu cá omega-3 [3]. Kết quả cho thấy nồng độ triglyceride, cholesterol toàn phần, HDL-cholesterol và apolipoprotein A-I không thay đổi [3]. Trái lại, nồng độ apolipoprotein B trong huyết thanh tăng đáng kể từ mức ban đầu 2,56 ± 0,11 mmol/L lên 2,82 ± 0,13 mmol/L sau 4 tuần và giữ ở mức 2,80 ± 0,13 mmol/L sau 8 tuần (p < 0,01) [3]. Khả năng kiểm soát đường huyết thậm chí xấu đi thoáng qua ở tuần thứ tư, với mức HbA1c tăng từ 7,7 ± 0,4% lên 8,4 ± 0,3% (p < 0,05) trước khi ổn định lại [3]. Điểm tích cực duy nhất là cả huyết áp tâm thu và tâm trương đều giảm có ý nghĩa (huyết áp tâm thu giảm từ 142 ± 5 mm Hg xuống 128 ± 5 mm Hg; huyết áp tâm trương giảm từ 88 ± 4 mm Hg xuống 80 ± 3 mm Hg sau 8 tuần, p < 0,01) [3]. Từ kết quả này, các tác giả năm 1988 nhận định việc bổ sung không cải thiện đường huyết hay lipid ở người không tăng mỡ máu nặng, và có thể làm tăng apo B bất lợi [3].

Một thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi đối chứng giả dược năm 2010 được thực hiện trên 81 bệnh nhân đái tháo đường type 2 trong 2 tháng với liều 3 g dầu cá mỗi ngày [4]. Nghiên cứu này ghi nhận nồng độ chất trung gian gây hại mạch máu là homocysteine giảm đáng kể -3,10 µmol/L ở nhóm dùng omega-3 so với mức tăng 0,10 µmol/L ở nhóm đối chứng [4]. Đồng thời, chỉ số HbA1c giảm 0,75% ở nhóm can thiệp và tăng 0,26% ở nhóm đối chứng [4]. Tuy nhiên, các chỉ số đường huyết lúc đói, chất chỉ điểm oxy hóa lipid malondialdehyde (MDA), protein phản ứng C (CRP), cholesterol toàn phần và LDL-cholesterol đều không có sự biến đổi đáng kể [4].

Năm 2012, một nghiên cứu can thiệp mù đơn ngẫu nhiên trên 41 phụ nữ lớn tuổi (độ tuổi trung bình 60,64 ± 7,82 tuổi) mắc đái tháo đường kèm béo phì và huyết áp cao được thực hiện trong 30 ngày [5]. Bệnh nhân được chia thành 3 nhóm: nhóm dùng 2,5 g dầu cá/ngày, nhóm dùng 1,5 g dầu cá/ngày và nhóm đối chứng [5]. Kết quả cho thấy nhóm dùng liều thấp (1,5 g/ngày) đạt mức giảm cân nặng, giảm vòng eo tốt hơn (p < 0,05), tần suất giảm đường huyết và cholesterol toàn phần cao hơn, đồng thời tăng HDL-cholesterol so với nhóm liều cao [5]. Ngược lại, liều cao 2,5 g/ngày có thể làm giảm độ nhạy insulin [5].

Năm 2015, một nghiên cứu quan sát đánh giá can thiệp dinh dưỡng kết hợp (Chế độ ăn ZONE giàu đạm tương đối, carbohydrate có chỉ số đường huyết thấp, bổ sung omega-3 chuỗi dài) ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 thừa cân, béo phì [6]. Chế độ can thiệp đa yếu tố này đã giúp cải thiện kiểm soát đường huyết (chỉ số HbA1c), số đo vòng eo và giảm tình trạng viêm tiềm ẩn [6].

Lợi ích thực tế và giới hạn của các bằng chứng

Dựa trên toàn bộ các dữ liệu khoa học, vai trò của omega-3 đối với bệnh nhân đái tháo đường type 2 thể hiện rõ ở 2 mặt:

Về mặt lợi ích, omega-3 là công cụ hỗ trợ hạ triglyceride máu hiệu quả, với mức giảm được ghi nhận từ 0,24 mmol/L đến 0,45 mmol/L qua các phân tích tổng hợp [1], [2]. Nó cũng hỗ trợ hạ nhẹ nồng độ lipoprotein VLDL [2] và có thể hỗ trợ kiểm soát huyết áp [3] hoặc giảm chất trung gian homocysteine [4]. Điều này mang lại giá trị nhất định trong việc quản lý tổng thể yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường vốn có mỡ máu cao.

Về mặt giới hạn, omega-3 hoàn toàn không phải thuốc hạ đường huyết. Phần lớn các thử nghiệm lâm sàng đều xác nhận dưỡng chất này không làm giảm HbA1c hay đường huyết lúc đói một cách độc lập [1], [2]. Bằng chứng về khả năng ngăn ngừa các biến cố tim mạch hay tử vong do tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường khi bổ sung omega-3 vẫn chưa được xác lập trong các tổng quan lớn [2]. Thêm vào đó, việc dùng omega-3 có thể đi kèm nguy cơ làm tăng nhẹ LDL-cholesterol (tăng 0,11 mmol/L) [2] hoặc tăng nồng độ apolipoprotein B [3].

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng dầu cá

Hiểu lầm lớn nhất của nhiều người bệnh là xem viên dầu cá như giải pháp thay thế cho thuốc điều trị đái tháo đường. Việc tự ý dừng thuốc hạ đường huyết để chuyển sang uống thực phẩm bổ sung có thể gây tăng vọt glucose máu, dẫn tới các biến chứng cấp tính và mạn tính nguy hiểm.

Một hiểu lầm khác là dùng liều càng cao thì mạch máu càng sạch. Nghiên cứu năm 2012 đã chỉ ra rằng bổ sung omega-3 liều cao (2,5 g/ngày) có thể gây tác động tiêu cực làm giảm độ nhạy insulin, trong khi liều thấp (1,5 g/ngày) lại đem lại đáp ứng chuyển hóa thuận lợi hơn [5]. Ngoài ra, việc dùng liều cao kéo dài không theo hướng dẫn còn tiềm ẩn rủi ro làm tăng LDL-cholesterol [2].

Người bệnh cũng thường nghĩ omega-3 loại nào cũng giống nhau. Thực tế, tỷ lệ thành phần EPA và DHA có thể ảnh hưởng khác nhau lên các chỉ số chuyển hóa và đáp ứng cơ thể [1].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Omega-3 tuy là axit béo thiết yếu nhưng không phù hợp cho mọi đối tượng sử dụng tùy tiện.

Bệnh nhân đái tháo đường type 2 có chỉ số lipid máu hoàn toàn bình thường không cần thiết phải dùng dầu cá bổ sung liều cao, vì nghiên cứu cho thấy nhóm này không nhận được lợi ích trên đường huyết lẫn mỡ máu, thậm chí có thể gặp hiện tượng tăng apo B [3].

Những người đang có chỉ số LDL-cholesterol cao cũng cần được bác sĩ theo dõi sát sao, do omega-3 có thể làm tăng nhẹ nồng độ LDL-cholesterol [2].

Người châu Á mắc đái tháo đường type 2 khi dùng omega-3 cần theo dõi kỹ đường huyết lúc đói, bởi phân tích gộp năm 2015 ghi nhận xu hướng tăng FPG ở nhóm dân số này [1].

Người bệnh có tiền sử rối loạn đông máu, đang chuẩn bị phẫu thuật hoặc đang sử dụng thuốc chống đông cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng bất kỳ sản phẩm bổ sung nào chứa dầu cá.

Hướng dẫn áp dụng an toàn trong đời sống

Để khai thác lợi ích của omega-3 một cách khoa học, người bệnh đái tháo đường type 2 nên tuân thủ các bước thực hành sau:

Về liều lượng, nếu sử dụng dạng viên bổ sung, mức liều vừa phải khoảng 1 đến 1,5 g dầu cá mỗi ngày là ngưỡng hợp lý để hỗ trợ chuyển hóa mà tránh làm giảm độ nhạy insulin [5]. Không tự ý dùng các mức liều cao trên 3 g/ngày nếu không có chỉ định trực tiếp từ nhân viên y tế [2], [4].

Về thời điểm, omega-3 là chất béo tan trong dầu, nên uống trong hoặc ngay sau bữa ăn có chứa chất béo lành mạnh để tối ưu hóa khả năng hấp thu qua đường tiêu hóa.

Về nguồn cung cấp, ưu tiên hàng đầu vẫn là nguồn thực phẩm tự nhiên thông qua chế độ ăn. Người bệnh nên duy trì ăn các loại cá béo như cá hồi, cá thu, cá trích từ 2 bữa mỗi tuần.

Về sự kết hợp lối sống, việc bổ sung dưỡng chất chỉ phát huy tác dụng khi đặt trong một mô hình dinh dưỡng tổng thể lành mạnh. Chế độ ăn giàu đạm hợp lý, sử dụng tinh bột có chỉ số đường huyết thấp kết hợp bổ sung omega-3 đã được chứng minh giúp cải thiện đáng kể HbA1c, số đo vòng eo và giảm viêm ở người thừa cân béo phì [6].

Người bệnh đái tháo đường type 2 chỉ nên xem omega-3 là biện pháp hỗ trợ hạ triglyceride khi có rối loạn lipid máu đi kèm, hoàn toàn không thể dùng để thay thế thuốc hạ đường huyết. Việc sử dụng cần có sự tư vấn của bác sĩ điều trị để đảm bảo liều lượng an toàn và phù hợp với thể trạng cá nhân.