Trong nhịp sống hiện đại bận rộn, nhiều người thường có thói quen bỏ qua bữa ăn sáng để kịp giờ làm việc hoặc để cắt giảm lượng calo với mục tiêu giảm cân. Không ít người băn khoăn liệu thói quen nhịn đói vào đầu ngày này có thực sự vô hại hay đang âm thầm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý nguy hiểm. Nhiều bằng chứng y khoa hiện đại đã chỉ ra rằng việc thường xuyên bỏ bữa sáng có mối liên quan mật thiết với sự gia tăng các biến cố tim mạch và đột quỵ.
Các nghiên cứu thuần tập theo dõi dài hạn trên hàng trăm nghìn người cho thấy người duy trì thói quen ăn sáng đều đặn có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ và tử vong sớm thấp hơn đáng kể so với những người thường xuyên nhịn sáng. Dưới góc độ sinh học và dịch tễ học, nhịn ăn sáng không chỉ làm rối loạn chuyển hóa mà còn tác động tiêu cực đến cấu trúc thành mạch.
Cơ chế sinh học: Nhịp sinh học và sự hình thành mảng xơ vữa
Việc nhịn bữa ăn đầu ngày tác động trực tiếp lên hệ thống đồng hồ sinh học bên trong cơ thể. Một thí nghiệm trên động vật cho thấy mức nạp năng lượng cao vào bữa sáng có tác dụng đảo ngược sự biểu hiện của các gen đồng hồ sinh học bị rối loạn, đồng thời mang lại hiệu quả tích cực trong việc kiểm soát lipid máu [1]. Khi cơ thể không nhận được năng lượng kịp thời vào buổi sáng, các chu trình chuyển hóa bị xáo trộn, dẫn tới sự mất cân bằng trong việc xử lý đường và chất béo.
Tình trạng bỏ bữa sáng kéo dài cũng được ghi nhận là có liên quan đến việc suy giảm chuyển hóa glucose và làm gia tăng nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2 [2]. Dữ liệu từ 4 nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn gồm Health Professionals Follow-Up Study, Nurses' Health Study, một nghiên cứu tại Nhật Bản và đoàn hệ EPIC của Đức đều xác nhận việc ăn sáng lành mạnh đều đặn giúp cải thiện khả năng kiểm soát đường huyết [2]. Khi đường huyết và lipid máu không được kiểm soát tốt, các tổn thương nội mạc mạch máu sẽ tích tụ dần theo thời gian.
Đặc biệt, dữ liệu từ nghiên cứu PESA tại Tây Ban Nha chỉ ra rằng việc bỏ bữa sáng có liên quan mật thiết đến sự gia tăng tỷ lệ mắc xơ vữa động mạch toàn thân và xơ vữa ngoài mạch vành, hoàn toàn độc lập với các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống [2]. Những mảng xơ vữa này tiến triển âm thầm, làm hẹp lòng mạch hoặc nứt vỡ tạo huyết khối, dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ não.
Dữ liệu từ các đoàn hệ quy mô lớn tại Nhật Bản
Tại châu Á, các nhà khoa học Nhật Bản đã tiến hành nhiều nghiên cứu thuần tập theo dõi chặt chẽ thói quen ăn uống của người dân. Nghiên cứu thuần tập hồi cứu Panasonic công bố năm 2023 trên 132.795 nhân viên không có tiền sử bệnh tim mạch ban đầu đã ghi nhận 3.115 ca biến cố tim mạch chính 3 điểm (MACE), 1.982 ca bệnh mạch vành (CAD) và 1.165 ca đột quỵ [3]. Kết quả cho thấy thói quen bỏ bữa sáng làm tăng nguy cơ gặp biến cố tim mạch chính với tỷ số nguy cơ HR là 1,13 [3].
Bên cạnh đó, nghiên cứu Panasonic cũng ghi nhận thói quen ăn nhanh làm tăng nguy cơ MACE với HR là 1,23 [3]. Khi phân tích sâu theo chỉ số khối cơ thể (BMI), mối liên hệ giữa việc bỏ bữa sáng và biến cố tim mạch thậm chí còn rõ rệt hơn ở nhóm người có thể trạng bình thường với BMI dưới 25 kg/m2, thể hiện qua chỉ số HR là 1,23 [3]. Ở nhóm có BMI dưới 25 kg/m2, hành vi ăn nhanh cũng làm tăng nguy cơ MACE với HR là 1,38 [3].
Một công trình quy mô khác là Nghiên cứu Hợp tác Nhật Bản (JACC) theo dõi 85.319 nam và nữ từ 40 đến 79 tuổi trong thời gian trung vị 19 năm và ghi nhận 5.870 ca tử vong do tim mạch [4]. Khi so sánh với nhóm ăn bữa sáng kiểu Nhật truyền thống, những người bỏ bữa sáng có tỷ số nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch tổng thể là 1,31 và tử vong do bệnh mạch vành lên tới 1,77 [4]. Tỷ số nguy cơ đối với tử vong do đột quỵ nói chung ở nhóm bỏ bữa sáng là 1,25 so với nhóm ăn sáng kiểu Nhật [4].
Trước đó, một nghiên cứu khác tại Nhật Bản cũng cho thấy việc ăn sáng không thường xuyên có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch tổng thể, đột quỵ toàn bộ và đặc biệt là xuất huyết não [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu này không tìm thấy sự gia tăng nguy cơ đối với xuất huyết dưới nhện, nhồi máu não hay bệnh tim thiếu máu cục bộ trong quần thể khảo sát [2].
Bằng chứng tử vong tim mạch tại Hoa Kỳ
Không chỉ ở các nước châu Á, dữ liệu y tế tại Bắc Mỹ cũng ghi nhận những kết quả đáng lo ngại về tác hại của việc bỏ bữa sáng. Một nghiên cứu tiến cứu dựa trên khảo sát kiểm tra sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia Hoa Kỳ (NHANES III) theo dõi 6.550 người trưởng thành từ 40 đến 75 tuổi trong thời gian tích lũy 112.148 người-năm, kéo dài từ 17 đến 23 năm [5]. Trong mẫu nghiên cứu này, có 5,1% số người không bao giờ ăn sáng, 10,9% hiếm khi ăn, 25,0% ăn sáng vào một số ngày và 59,0% ăn sáng mỗi ngày [5].
Trong suốt thời gian theo dõi, các nhà khoa học đã ghi nhận 2.318 trường hợp tử vong, trong đó có 619 ca tử vong do bệnh lý tim mạch [5]. Sau khi hiệu chỉnh toàn diện các yếu tố như tuổi, giới tính, chủng tộc, tình trạng kinh tế xã hội, lối sống, BMI và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác, nhóm không bao giờ ăn sáng có tỷ số nguy cơ tử vong do tim mạch cao gấp 1,87 lần so với nhóm ăn sáng đều đặn mỗi ngày [5]. Tỷ số nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân ở nhóm không bao giờ ăn sáng cũng ở mức 1,19 [5].
Nghiên cứu theo dõi sức khỏe nhân viên y tế tại Hoa Kỳ cũng từng ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch mới ở những nam giới thường xuyên bỏ bữa sáng [2]. Những bằng chứng này củng cố nhận định rằng nhịn ăn sáng không đơn thuần là thói quen sinh hoạt cá nhân mà là một hành vi nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng.
Phân tích tổng hợp: Cái nhìn toàn cảnh từ hàng trăm nghìn người
Để có cái nhìn toàn diện hơn, các nhà dịch tễ học đã tiến hành gộp dữ liệu từ nhiều nghiên cứu đoàn hệ lớn trên thế giới. Một phân tích tổng hợp năm 2021 dựa trên hướng dẫn MOOSE từ 14 nghiên cứu thuần tập đã so sánh nhóm người ăn sáng trên 3 lần mỗi tuần với nhóm ăn từ 3 lần trở xuống mỗi tuần [6]. Kết quả cho thấy thói quen ăn sáng trên 3 lần mỗi tuần giúp giảm 13% nguy cơ mắc bệnh tim mạch nói chung với tỷ số RR là 0,87 [6].
Đồng thời, nhóm ăn sáng thường xuyên cũng giảm tới 37% nguy cơ tử vong do tim mạch với RR là 0,63 và giảm 11% nguy cơ đột quỵ với RR là 0,89 [6]. Thói quen này còn giúp giảm 20% nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2 (RR: 0,80), giảm 26% nguy cơ béo phì (RR: 0,74), giảm 14% nguy cơ hội chứng chuyển hóa (RR: 0,86), giảm 25% nguy cơ hạ cholesterol HDL (RR: 0,75) và giảm 8% nguy cơ tăng huyết áp với RR là 0,92 [6].
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp khác năm 2019 tổng hợp 4 nghiên cứu thuần tập tiến cứu tại Nhật Bản và Hoa Kỳ trên 199.634 người trưởng thành từ 40 tuổi trở lên với thời gian theo dõi trung vị 17,4 năm [7]. Dữ liệu gộp cho thấy những người thường xuyên bỏ bữa sáng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch mới hoặc tử vong do tim mạch cao hơn khoảng 21% so với người ăn sáng đều đặn, với HR gộp là 1,21 [7]. Nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân ở nhóm thường xuyên nhịn sáng cũng cao hơn 32% với HR là 1,32 [7]. Tác giả của một nghiên cứu tại Canada khi trích dẫn phân tích này cũng đồng thuận rằng việc bỏ bữa sáng làm tăng 21% nguy cơ mắc hoặc tử vong do bệnh tim mạch nói chung [8].
Những tranh luận, khác biệt và giới hạn của bằng chứng
Mặc dù phần lớn các nghiên cứu ủng hộ vai trò bảo vệ của bữa sáng, y văn vẫn ghi nhận những kết quả chưa hoàn toàn đồng nhất khi phân tích từng biến cố cụ thể. Nghiên cứu thuần tập tại Canada theo dõi trong 9 năm lại không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc bỏ bữa sáng với tỷ lệ nhập viện hoặc tử vong do riêng bệnh động mạch vành (CAD) [8]. Tương tự, nghiên cứu tại Nhật Bản cũng cho thấy nhịn sáng làm tăng xuất huyết não nhưng không thấy tăng nguy cơ nhồi máu não hay bệnh mạch vành [2].
Mặt khác, chất lượng và thành phần dinh dưỡng của bữa sáng đang trở thành tâm điểm nghiên cứu mới thay vì chỉ nhìn vào việc có ăn hay nhịn. Một nghiên cứu thuần tập theo dõi 14 năm trên người trưởng thành tại Trung Quốc đã chỉ ra rằng lượng năng lượng nạp vào phù hợp trong bữa sáng có mối liên quan độc lập với việc giảm nguy cơ biến cố tim mạch chính và đột quỵ [1]. Trong nghiên cứu này, các tác giả nhận thấy việc nạp nhiều năng lượng hơn vào bữa sáng giúp giảm nguy cơ đột quỵ ở nam giới, tương đồng với phát hiện từ nghiên cứu CIRCS tại Nhật Bản [1].
Tuy nhiên, nghiên cứu tại Trung Quốc cũng ghi nhận mức năng lượng từ carbohydrate trong bữa sáng của người tham gia chiếm tới 76,4%, trong khi hướng dẫn dinh dưỡng cư dân Trung Quốc năm 2022 khuyến nghị carbohydrate chỉ nên chiếm từ 50% đến 60% tổng năng lượng cả ngày [1]. Nghiên cứu JACC tại Nhật Bản cũng phát hiện loại hình bữa sáng tạo ra sự khác biệt lớn: nhóm ăn bữa sáng kết hợp giữa kiểu Nhật và phương Tây có tỷ số nguy cơ tử vong do tim mạch tổng thể giảm xuống 0,64, tử vong do đột quỵ giảm xuống 0,67 và tử vong do bệnh mạch vành giảm xuống 0,73 so với nhóm chỉ ăn bữa sáng kiểu Nhật thuần túy [4].
Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng định nghĩa về hành vi "bỏ bữa sáng" giữa các nghiên cứu còn khá khác biệt và việc điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu lối sống chưa hoàn toàn đồng nhất [7]. Do đó, các yếu tố gây nhiễu còn sót lại vẫn chưa thể loại trừ hoàn toàn và cần thêm các nghiên cứu tiến cứu lớn với định nghĩa chuẩn hóa trên nhiều quần thể khác nhau [7].
Ai nên thận trọng với thói quen nhịn sáng?
Dựa trên dữ liệu dịch tễ học, những người có bệnh nền tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm cần hết sức thận trọng trước thói quen bỏ bữa sáng. Nhịn ăn sáng làm tăng khả năng bị tụt HDL-cholesterol (loại mỡ máu tốt), đồng thời làm tăng nguy cơ phát triển hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường týp 2 [6]. Đối với bệnh nhân đã từng bị đột quỵ, việc duy trì chế độ ăn uống khoa học và kiểm soát năng lượng đầu ngày là yếu tố then chốt để phòng ngừa tái phát [1].
Đáng chú ý, những người có thể trạng gầy hoặc bình thường với chỉ số BMI dưới 25 kg/m2 không nên chủ quan cho rằng mình có ít nguy cơ tim mạch hơn người béo phì. Kết quả từ nghiên cứu Panasonic chỉ ra rằng tác động tiêu cực của việc bỏ bữa sáng và ăn nhanh lên các biến cố tim mạch chính lại thể hiện rõ rệt nhất ở nhóm người có BMI dưới 25 kg/m2, trong khi không phát hiện thấy mối liên hệ này ở nhóm thừa cân có BMI từ 25 kg/m2 trở lên [3].
Những người đang thực hiện các chế độ nhịn ăn gián đoạn để giảm cân hoặc kiểm soát vóc dáng cũng cần lắng nghe cơ thể. Việc bỏ qua hoàn toàn bữa sáng có thể gây biến động đường huyết bất lợi và thúc đẩy hình thành các mảng xơ vữa động mạch ngoài ý muốn [2]. Bất kỳ ai có bệnh lý mạn tính hoặc đang sử dụng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi thay đổi khung giờ ăn uống hàng ngày.
Áp dụng thực tế để có bữa sáng bảo vệ tim mạch
Để chăm sóc hệ tim mạch tốt nhất, bữa sáng nên được duy trì như một thói quen cố định trên 3 ngày mỗi tuần, lý tưởng nhất là ăn đều đặn mỗi sáng [6]. Thời điểm dùng bữa nên diễn ra trong khoảng 1 đến 2 giờ sau khi thức dậy để kịp thời điều hòa lại các gen nhịp sinh học và ổn định chuyển hóa cơ thể [1].
Về mặt cấu trúc bữa ăn, không nên chỉ tiêu thụ tinh bột đơn thuần. Dữ liệu từ Trung Quốc cảnh báo tỷ lệ carbohydrate lên tới 76,4% ở bữa sáng có thể chưa phải là cơ cấu tối ưu [1]. Việc kết hợp đa dạng các nguồn thực phẩm, chẳng hạn như mô hình bữa sáng kết hợp phong phú đã được chứng minh giúp hạ thấp đáng kể nguy cơ tử vong tim mạch và đột quỵ [4]. Bạn nên phối hợp ngũ cốc nguyên hạt với các nguồn protein nạc, chất xơ từ rau củ, quả mọng và chất béo không bão hòa.
Bên cạnh việc ăn sáng đúng giờ, tốc độ ăn cũng là yếu tố cần thay đổi. Thói quen ăn quá nhanh đã được chứng minh làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch chính lên 23% ở người bình thường và lên 38% ở người có BMI dưới 25 kg/m2 [3]. Hãy dành ít nhất 15 đến 20 phút để nhai kỹ, ăn chậm, giúp hệ tiêu hóa làm việc nhịp nhàng và tránh tạo áp lực đột ngột lên huyết động tim mạch.
Thói quen ăn sáng đều đặn đóng vai trò như một tấm lá chắn tự nhiên bảo vệ mạch máu khỏi nguy cơ xơ vữa và các biến cố tim mạch đe dọa tính mạng. Bắt đầu ngày mới bằng một bữa ăn cân bằng, đủ chất và ăn với tốc độ vừa phải là giải pháp đơn giản nhưng mang lại lợi ích lâu dài cho sức khỏe trái tim.




