Nhiều người mắc bệnh viêm đường ruột mạn tính thường tìm kiếm các loại thảo dược bổ sung để kiểm soát triệu chứng đau bụng, đi ngoài kéo dài. Nhũ hương (Boswellia serrata) được chú ý nhờ đặc tính chống viêm tự nhiên và được quảng bá hỗ trợ đường ruột.
Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học hiện tại cho thấy bằng chứng lâm sàng về hiệu quả của Boswellia đối với viêm loét đại tràng còn khá khiêm tốn. Nghiên cứu trên người có cỡ mẫu nhỏ, một số thử nghiệm trên động vật cho kết quả trái ngược, do đó thảo dược này chưa đủ cơ sở khoa học để thay thế các loại thuốc điều trị đặc hiệu.
Cơ chế tác động: Ức chế enzym gây viêm 5-LOX
Viêm loét đại tràng là bệnh lý đặc trưng bởi sự thâm nhiễm bạch cầu và các ổ loét nông ở niêm mạc đại tràng, trực tràng [1]. Quá trình viêm liên quan trực tiếp đến sự gia tăng sản sinh leukotriene, chất trung gian hóa học kích thích hóa hướng động, phóng thích gốc tự do superoxide và các enzym tiêu thể từ thực bào [2]. Enzym chủ chốt để tổng hợp nên các leukotriene này là 5-lipoxygenase (5-LOX) [3], [2].
Thành phần hoạt tính sinh học trong nhựa cây Boswellia serrata là các axit boswellic [3]. Axit boswellic được ghi nhận là chất ức chế đặc hiệu, không oxy hóa khử và không cạnh tranh đối với enzym 5-LOX [3], [2]. Nhờ can thiệp trực tiếp vào enzym này, thảo dược giúp ngăn chặn chuỗi tổng hợp chất trung gian gây viêm duy trì bệnh [3], [2].
Ngoài ra, dạng bán tổng hợp của acetyl-11-keto-beta-boswellic acid (sAKBA) - thành phần chống viêm mạnh nhất trong nhựa cây - còn cho thấy khả năng can thiệp vào quá trình kết dính tế bào [4]. Trong mô hình viêm đại tràng thực nghiệm ở chuột dùng dextran sodium sulfate (DSS), sAKBA làm giảm hoạt động bệnh trên vi thể và đại thể, đồng thời ức chế đáng kể sự tuyển mộ bạch cầu và tiểu cầu bám vào tiểu tĩnh mạch đại tràng [4]. Tác động này đạt được nhờ khả năng ngăn chặn sự gia tăng biểu hiện của P-selectin tại vi tuần hoàn đại tràng, cho hiệu quả tương đương nhóm dùng corticosteroid [4].
Ghi nhận bảo vệ niêm mạc và chống oxy hóa trên động vật
Bên cạnh con đường leukotriene, các nghiên cứu thực nghiệm trên chuột cống bị viêm đại tràng cấp tính do axit axetic (AA) cho thấy chiết xuất Boswellia serrata mang lại khả năng chống oxy hóa mô [1], [5]. Chuột mắc bệnh được cho uống chiết xuất với liều 34,2 mg/kg/ngày trong 2 ngày trước và 2 ngày sau khi gây viêm bằng 4 mL axit axetic 4% [1], [5].
Kết quả cho thấy ở nhóm viêm đại tràng, áp lực cơ thắt hậu môn suy giảm đáng kể, chỉ số peroxy hóa lipid (LPO/TBARS) tăng cao, đồng thời nồng độ oxit nitric và biểu hiện enzym iNOS đều tăng mạnh [1]. Khi được bổ sung Boswellia serrata, áp lực cơ thắt hậu môn phục hồi đáng kể so với nhóm đối chứng viêm [1], [5]. Quá trình peroxy hóa lipid, oxit nitric và iNOS đều giảm rõ rệt, mô ruột giảm phù nề và các hốc niêm mạc được bảo tồn tốt hơn [1], [5].
Về hệ thống enzym phòng thủ, nhóm chuột dùng Boswellia serrata ghi nhận sự gia tăng có ý nghĩa thống kê của glutathione peroxidase (GPx) và glutathione (GSH), đồng thời hoạt độ superoxide dismutase (SOD) giảm so với nhóm viêm [5]. Những dữ liệu này chỉ ra chiết xuất thảo dược có tác dụng bảo vệ mô và chống oxy hóa tại chỗ trong tổn thương cấp tính [1], [5].
Các nghiên cứu trên người: Cỡ mẫu nhỏ và tỉ lệ thuyên giảm
Bằng chứng lâm sàng ở bệnh nhân viêm đại tràng mạn tính bắt đầu được công bố từ cuối thập niên 1990 với các thử nghiệm quy mô hẹp [3], [2].
Năm 1997, một thử nghiệm đánh giá chế phẩm nhựa Boswellia serrata trên bệnh nhân viêm loét đại tràng độ II và III [3]. Nhóm can thiệp dùng 350 mg nhựa cây với tần suất 3 lần mỗi ngày trong 6 tuần, nhóm đối chứng dùng thuốc sulfasalazine liều 1 g x 3 lần/ngày [3]. Kết quả kiểm tra mẫu sinh thiết trực tràng, tính chất phân và các chỉ số máu (Hb, sắt huyết thanh, canxi, phốt pho, protein, tổng bạch cầu và bạch cầu ái toan) cho thấy sự cải thiện ở cả hai nhóm [3]. Tỉ lệ bệnh nhân đạt thuyên giảm ở nhóm dùng Boswellia là 82%, trong khi nhóm dùng sulfasalazine là 75% [3].
Đến năm 2001, một nghiên cứu khác theo dõi 30 bệnh nhân viêm đại tràng mạn tính (17 nam, 13 nữ, độ tuổi 18-48) biểu hiện đau bụng dưới mơ hồ, tiêu chảy ra máu và đau khi sờ đại tràng sigma [2]. Trong đó, 20 bệnh nhân uống 900 mg nhựa Boswellia serrata chia 3 lần mỗi ngày trong 6 tuần, còn 10 bệnh nhân đối chứng dùng sulfasalazine liều 3 g/ngày chia 3 lần [2]. Sau điều trị, 18/20 người dùng Boswellia cải thiện các chỉ số phân, mô bệnh học và xét nghiệm máu [2]. Có 14/20 bệnh nhân (70%) nhóm Boswellia đạt lui bệnh, so với 4/10 bệnh nhân ở nhóm sulfasalazine [2].
Năm 2016, nghiên cứu nhãn mở dạng sổ bộ theo dõi dạng bào chế mới gắn lecithin của Boswellia serrata (Casperome) trên 43 bệnh nhân viêm loét đại tràng đang ở giai đoạn thuyên giảm ít triệu chứng [6]. Có 22 người tự nguyện chọn uống bổ sung hàng ngày trong 4 tuần và 21 người không dùng [6]. Nhóm sử dụng Casperome ghi nhận giảm đau bụng lan tỏa, giảm máu trong phân (mắt thường và vi thể), giảm số lần đi ngoài, giảm chuột rút, phân lỏng, mệt mỏi, thiếu máu và cải thiện nồng độ calprotectin trong phân - một dấu ấn sinh học phản ánh tình trạng viêm ruột [6]. Nhu cầu dùng thuốc phối hợp và thăm khám y tế ở nhóm này cũng giảm [6].
Dù kết quả ban đầu khả quan, các nghiên cứu này đều có chung giới hạn lớn: số lượng bệnh nhân tham gia rất ít (chỉ từ 30-43 người), thời gian can thiệp ngắn (4-6 tuần), thiết kế nhãn mở hoặc thiếu đối chứng mù đôi giả dược chuẩn mực [3], [6], [2].
Cảnh báo từ nghiên cứu đối nghịch: Nguy cơ tổn thương gan
Người bệnh không nên nhìn nhận thảo dược là hoàn toàn vô hại. Năm 2005, một công bố khoa học độc lập trên chuột bị viêm đại tràng do hóa chất dextran sulfate hoặc trinitrobenzene sulfonic acid đã ghi nhận kết quả hoàn toàn trái ngược [7].
Nghiên cứu này chỉ ra chiết xuất Boswellia không có hiệu quả cải thiện triệu chứng viêm đại tràng trên các mô hình chuột thí nghiệm [7]. Trên tế bào biểu mô ruột in vitro, các axit boswellic đơn lẻ thậm chí còn làm tăng hoạt tính NF-kappaB ở mức cơ bản cũng như khi kích thích bằng IL-1beta, đồng thời đảo ngược tác dụng tăng sinh của IL-1beta [7].
Đáng lo ngại hơn, các nhà khoa học phát hiện độc tính trên gan của Boswellia với hiện tượng gan to rõ rệt và thoái hóa mỡ gan ở động vật thí nghiệm [7]. Độc tính gan và sự tích tụ lipid được xác nhận lại trên dòng tế bào người HepG2 [7]. Phân tích biểu hiện gen gan cho thấy sự rối loạn điều hòa của một loạt gen liên quan đến chuyển hóa lipid và các enzym giải độc, tương tự như phản ứng trước các chất ngoại sinh gây độc gan [7]. Nghiên cứu đưa ra khuyến cáo cần hết sức thận trọng trước nguy cơ dùng Boswellia liều cao, kéo dài và không kiểm soát dưới dạng thực phẩm bổ sung [7].
Hiểu lầm thường gặp và những đối tượng cần thận trọng
Nhiều người bệnh thường lầm tưởng rằng các sản phẩm chiết xuất tự nhiên có thể dùng thay thế thuốc kê đơn 5-ASA (như sulfasalazine, mesalazine) hoặc corticoid. Bằng chứng hiện có chưa đủ độ tin cậy để khẳng định Boswellia tương đương hay vượt trội hơn phác đồ y khoa chính thống [7], [8]. Trong tổng quan hệ thống của Cochrane về viêm đại tràng collagen, thử nghiệm về chiết xuất Boswellia serrata cũng chỉ mới dừng lại ở dạng tóm tắt hội nghị, chưa đủ bằng chứng thuyết phục [8]. Tự ý ngưng thuốc điều trị để chuyển sang dùng thảo dược có thể khiến tình trạng viêm ruột bùng phát dữ dội.
Những đối tượng cần đặc biệt thận trọng:
- Bệnh nhân có tiền sử bệnh gan, men gan cao hoặc gan nhiễm mỡ: Dữ liệu thực nghiệm cho thấy nguy cơ gây độc tế bào gan và tích tụ mỡ ở liều cao [7].
- Người đang trong đợt viêm loét đại tràng tiến triển nặng: Thảo dược không có chỉ định cấp cứu và hiệu quả thực tế chưa đồng nhất giữa các nghiên cứu [7].
- Bệnh nhân đang dùng nhiều loại thuốc chuyển hóa qua gan: Cần đề phòng tương tác làm thay đổi nồng độ thuốc điều trị.
- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú: Chưa có đầy đủ hồ sơ an toàn kiểm chứng.
Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn
Người bệnh viêm loét đại tràng chỉ nên xem Boswellia như một liệu pháp bổ trợ tiềm năng, tuyệt đối không tự ý thay thế phác đồ bác sĩ chuyên khoa đã chỉ định.
Nếu có ý định sử dụng, bệnh nhân cần trao đổi kỹ với bác sĩ tiêu hóa. Trong các thử nghiệm lâm sàng nhỏ, liều dùng thường dao động ở mức 350 mg x 3 lần/ngày hoặc 900 mg chia 3 lần/ngày đối với nhựa cây Boswellia serrata trong đợt can thiệp ngắn 6 tuần [3], [2]. Dạng chiết xuất gắn lecithin (Casperome) được theo dõi bổ trợ trong giai đoạn lui bệnh tối thiểu triệu chứng trong 4 tuần [6]. Khi dùng, cần theo dõi định kỳ chức năng gan (AST, ALT) để tầm soát nguy cơ ngộ độc tế bào gan [7].
Boswellia serrata cho thấy tiềm năng chống viêm thông qua ức chế chọn lọc enzym 5-LOX và giảm các chất trung gian oxy hóa [1], [3], [2]. Tuy nhiên, do bằng chứng lâm sàng còn mỏng và tồn tại cảnh báo về độc tính trên gan ở liều cao [7], người bệnh cần tỉnh táo, tuân thủ đơn thuốc và thăm khám y khoa đều đặn.






