Căng thẳng kéo dài và lo âu thường trực khiến nhiều người tìm đến các loại thảo dược tự nhiên để thư giãn tinh thần mà không cần dùng thuốc kê đơn. Trong số đó, chiết xuất từ rễ cây nữ lang (Valeriana officinalis) được truyền tai như một phương thuốc an thần, giảm căng thẳng hữu hiệu. Thắc mắc lớn nhất của người dùng hiện nay là liệu thảo dược này có tác dụng thực sự đối với chứng lo âu hay tất cả chỉ là hiệu ứng tâm lý giả dược.
Các bằng chứng khoa học cho thấy chiết xuất rễ nữ lang có tác động thực sự lên não bộ và sở hữu tiềm năng làm dịu cảm giác lo âu. Dù vậy, mức độ hiệu quả trên lâm sàng vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên do cỡ mẫu nhỏ và kết quả chưa đồng nhất [1]. Thảo dược này có thể hỗ trợ giải tỏa căng thẳng cấp tính nhưng chưa đủ bằng chứng để khẳng định là giải pháp thay thế thuốc điều trị lo âu mạn tính [1], [2].
Cơ chế tác động lên hệ thần kinh của rễ nữ lang
Nữ lang (Valeriana officinalis) là loại thảo dược lâu năm phân bố phổ biến ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á [3]. Trong y học truyền thống phương Tây, nữ lang thường được ứng dụng để hỗ trợ cải thiện chứng bồn chồn, run rẩy và lo âu [3]. Các hoạt chất chính có trong dịch chiết rễ bao gồm tinh dầu, axit valerenic, valenol, valepotriates cùng một số ancaloit [3].
Tác dụng an thần và giảm âu lo của thảo dược này từ lâu được cho là xuất phát từ sự tương tác và điều biến hệ dẫn truyền GABA (axit gamma-aminobutyric) trong não bộ [4], [5]. GABA là chất ức chế dẫn truyền thần kinh giữ vai trò then chốt trong việc hạ thấp hưng phấn của hệ thần kinh trung ương. Khi hệ thống này được kích hoạt, tín hiệu thần kinh bị làm dịu, hỗ trợ làm giảm trạng thái căng thẳng tâm lý và thúc đẩy giấc ngủ [6], [4].
Về mặt sinh học thần kinh trên người, một thử nghiệm mù đôi, ngẫu nhiên, chéo có đối chứng giả dược năm 2017 trên 15 người tình nguyện khỏe mạnh đã ứng dụng kích thích từ trường xuyên sọ (TMS) để tìm hiểu tác động của nữ lang [4]. Nhóm tham gia uống một liều duy nhất 900 mg chiết xuất rễ nữ lang (chuẩn hóa 0,8% axit valerenic) hoặc giả dược chứa vitamin E [4]. Kết quả ghi nhận chiết xuất nữ lang làm giảm đáng kể hiện tượng tạo thuận trong vỏ não (ICF) mà không làm thay đổi các thông số kích thích vỏ não vận động khác [4]. Tác động ức chế mạch tạo thuận này quay trở lại mức ban đầu sau 6 giờ, chứng minh dược liệu này thực sự làm thay đổi tính hưng phấn vỏ não ở người chứ không đơn thuần là giả dược [4].
Bằng chứng lâm sàng giảm lo âu trong các tình huống thực tế
Tác động làm dịu lo âu của rễ nữ lang cũng đã được kiểm tra trên các tình huống gây căng thẳng cấp tính ngoài đời sống. Điển hình là nghiên cứu năm 2014 thực hiện thiết kế mù đôi, ngẫu nhiên, đối chứng giả dược theo phương pháp chia nửa miệng trên 20 người tình nguyện từ 17 đến 31 tuổi trải qua phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới [7]. Bệnh nhân được cho dùng một liều uống duy nhất 100 mg chiết xuất nữ lang hoặc giả dược trước khi can thiệp 1 giờ [7]. Đánh giá sau đó cho thấy 80% từ nhà nghiên cứu và 75% từ bác sĩ phẫu thuật xác nhận nhóm dùng nữ lang giữ được trạng thái bình tĩnh và thư giãn tốt hơn [7]. Thêm vào đó, nữ lang cho thấy tác dụng duy trì ổn định huyết áp tâm thu và nhịp tim tốt hơn sau phẫu thuật, cho thấy khả năng an thần tỉnh táo vượt trội hơn giả dược [7].
Trong một nghiên cứu khác vào năm 2006, các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm mù đôi, ngẫu nhiên, chéo có đối chứng giả dược trên 24 người khỏe mạnh nhằm kiểm tra khả năng giảm căng thẳng nhân tạo trong phòng thí nghiệm thông qua hệ thống mô phỏng DISS [8]. Tình nguyện viên dùng các liều đơn 600 mg, 1200 mg, 1800 mg của chế phẩm phối hợp giữa chiết xuất Melissa officinalis (tía tô đất) và Valeriana officinalis (nữ lang), cách nhau 7 ngày đào thải [8]. Kết quả cho thấy liều 600 mg của công thức phối hợp này giúp cải thiện đáng kể mức độ tiêu cực của bài kiểm tra đối với đánh giá cảm xúc lo âu [8].
Ngoài ra, tiềm năng của thảo dược này đối với các dạng rối loạn tâm thần liên quan đến âu lo cũng từng được khảo sát. Một thử nghiệm thí điểm mù đôi, ngẫu nhiên kéo dài 8 tuần vào năm 2011 trên 31 bệnh nhân ngoại trú mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) đã so sánh liều 765 mg/ngày chiết xuất rễ nữ lang với giả dược 30 mg/ngày [5]. Kết thúc thử nghiệm, nhóm dùng chiết xuất rễ nữ lang đạt được sự thuyên giảm triệu chứng OCD vượt trội so với nhóm giả dược với ý nghĩa thống kê rõ rệt [5].
Giới hạn và mâu thuẫn giữa các nghiên cứu khoa học
Mặc dù các số liệu riêng lẻ cho thấy tín hiệu khả quan, bức tranh toàn cảnh từ các đánh giá hệ thống lại ghi nhận nhiều mâu thuẫn. Một tổng quan năm 2010 về các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng nhằm đánh giá hiệu quả thảo dược trên bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) chỉ ra rằng số lượng nghiên cứu về rễ nữ lang còn rất hạn chế [1]. Mặc dù nữ lang cùng với một số dược liệu khác cho thấy tiềm năng trong các bệnh lý lo âu, tổng quan kết luận các nghiên cứu hiện có tồn tại những lỗi thiết kế nghiêm trọng và thiếu hụt thử nghiệm quy mô lớn để đưa ra kết luận chắc chắn [1].
Một phân tích gộp năm 2020 đánh giá hiệu quả của cây nữ lang trong điều trị rối loạn giấc ngủ và các vấn đề liên quan cũng nhấn mạnh thực trạng khan hiếm dữ liệu [6]. Do thiếu dữ liệu lâm sàng chất lượng cao, các nhà nghiên cứu đã phải đưa toàn bộ các thử nghiệm có đối chứng giả dược đủ khả năng chuyển đổi quy mô ảnh hưởng vào phân tích mà không thể loại trừ dựa trên nguy cơ sai số hay thang điểm chất lượng Jadad [6].
Thêm vào đó, các loại thuốc điều trị chuẩn mực cho nhóm rối loạn lo âu như thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRI), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI) hay nhóm benzodiazepine đều có nền tảng bằng chứng đồ sộ từ nhiều thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên và phân tích gộp [2]. Nhóm thuốc SSRI và SNRI đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt làm lựa chọn điều trị hàng đầu cho nhiều rối loạn lo âu [2]. Đặt cạnh các dữ liệu này, chiết xuất rễ nữ lang hiện vẫn chưa có đủ căn cứ để được xếp vào nhóm điều trị thay thế thuốc kê đơn [1], [2].
Tác động của nữ lang đối với hệ thần kinh cũng có thể mang tính chất hai mặt tùy thuộc vào liều lượng và dạng dùng. Trong nghiên cứu phối hợp với tía tô đất năm 2006, khi tình nguyện viên dùng liều cao nhất 1800 mg, mức độ lo âu lại có xu hướng gia tăng đáng kể trong một phiên kiểm tra [8]. Cả ba mức liều thử nghiệm (600 mg, 1200 mg, 1800 mg) trong nghiên cứu đó cũng dẫn đến sự sụt giảm hiệu suất trên bài kiểm tra nhận thức màu sắc Stroop [8]. Do đó, việc tự ý nâng liều không những không làm tăng hiệu quả thư giãn mà còn có nguy cơ phản tác dụng hoặc làm suy giảm khả năng xử lý thông tin tạm thời [8].
Hiểu lầm thường gặp về chiết xuất nữ lang
Nhiều người lầm tưởng rằng chiết xuất thảo dược tự nhiên thì an toàn tuyệt đối và có thể uống tùy ý không cần liều lượng. Thực tế, rễ nữ lang là một dược liệu có hoạt tính tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương và dẫn truyền vỏ não [4]. Tác dụng phụ được ghi nhận phổ biến nhất trong các thử nghiệm lâm sàng là hiện tượng buồn ngủ hoặc ngủ gà vào ban ngày, đặc biệt là khi dùng liều cao [5], [3].
Một hiểu lầm phổ biến khác là cho rằng cứ dùng liều càng cao thì thần kinh càng nhanh chóng được trấn tĩnh. Dữ liệu từ các nghiên cứu thăm dò liều lượng trong điều trị giấc ngủ cho thấy mức liều 900 mg không mang lại hiệu quả vượt trội hơn so với mức liều 450 mg [3]. Hơn nữa, việc lạm dụng liều cao ở một số chế phẩm phối hợp thậm chí còn kích hoạt cảm giác bất an hoặc gây cản trở sự tập trung tâm thần [8].
Bên cạnh đó, các ghi nhận rải rác cũng chỉ ra việc dùng rễ nữ lang đôi khi đi kèm các phản ứng không mong muốn như đau đầu, buồn nôn, hồi hộp đánh trống ngực [3]. Đáng lưu ý, hiện tượng xuất hiện các triệu chứng cai tương tự như khi ngừng thuốc an thần benzodiazepine cũng đã được báo cáo khi người dùng dừng thảo dược này một cách đột ngột [3].
Ai nên thận trọng khi tìm đến rễ nữ lang?
Người đang cần sự tập trung cao độ, người lái xe hoặc vận hành máy móc phải hết sức thận trọng khi tiếp cận thảo dược này. Tác dụng phụ gây buồn ngủ đã được xác nhận là khác biệt rõ rệt so với giả dược trong thử nghiệm lâm sàng kéo dài [5]. Các bài kiểm tra tâm lý học thần kinh cũng ghi nhận sự suy giảm hiệu suất thực hiện bài tập nhận thức tổng thể khi dùng thảo dược [8].
Những người có tiền sử phụ thuộc thuốc an thần hoặc nhạy cảm với các chất ức chế thần kinh trung ương cũng cần tham vấn y khoa kỹ lưỡng. Dù chiết xuất nữ lang được xếp vào nhóm có tiềm năng tương tác thấp với hệ enzym chuyển hóa cytochrom P450 (xếp thứ 15 trên thang 16 bậc thử nghiệm của Budzinski và cộng sự) [3], nguy cơ triệu chứng cai khi ngừng sử dụng vẫn là vấn đề cần theo dõi [3]. Người đang mắc các bệnh lý rối loạn tâm thần phức tạp như trầm cảm nặng hay rối loạn lo âu toàn thể không nên tự ý dùng nữ lang để thay thế các chỉ định thuốc chuyên khoa [1], [2].
Gợi ý sử dụng thực tế và an toàn
Chiết xuất rễ cây nữ lang trên thị trường hiện nay chủ yếu được điều chế dưới dạng cao chiết nước hoặc cồn-nước (sử dụng ethanol 70%) với tỷ lệ thảo mộc trên chiết xuất dao động từ 4:1 đến 7:1 [3]. Về mặt chi phí, nguồn bổ sung thảo dược này khá kinh tế so với nhiều loại thuốc an thần kê đơn, chẳng hạn mức chi trả ước tính khoảng 10 USD mỗi tháng cho nữ lang so với hơn 80 USD đối với thuốc như zolpidem [3].
Trong các thử nghiệm lâm sàng và khuyến nghị phổ biến, liều dùng đơn lẻ của chiết xuất rễ nữ lang thường dao động trong khoảng từ 400 mg đến 900 mg [3]. Đối với các trường hợp sử dụng để hỗ trợ làm dịu thần kinh và thúc đẩy giấc ngủ, liều lượng phổ biến thường được áp dụng là 400 mg đến 450 mg uống vào thời điểm trước khi đi ngủ [3]. Trong nha khoa, liều duy nhất 100 mg cũng đã được dùng trước thủ thuật 1 giờ để giảm bớt âu lo căng thẳng [7]. Khi dùng chế phẩm dạng viên nang cho các tình trạng mạn tính, liều dùng phân chia trong nghiên cứu đạt mức 765 mg chia theo ngày trong vòng 8 tuần [5].
Người dùng nên bắt đầu từ liều thấp nhất theo hướng dẫn trên nhãn sản phẩm chuẩn hóa hoặc theo tư vấn y tế, tránh dùng liều vượt mức quy định để không làm suy giảm nhận thức hoặc gây buồn ngủ ban ngày [8], [3]. Tuyệt đối không tự ý ngưng các loại thuốc chống lo âu đang điều trị để chuyển sang thảo dược khi chưa có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa [2].
Rễ nữ lang thể hiện tác động dược lý thực tế lên các mạch thần kinh của não bộ và hỗ trợ xoa dịu phản ứng căng thẳng tâm lý trong một số tình huống cụ thể. Tuy nhiên, bằng chứng khoa học đối với chứng rối loạn lo âu bệnh lý vẫn chưa đủ vững chắc và chưa thể so sánh với các phác đồ chuẩn mực. Người tiêu dùng nên tiếp cận thảo dược này một cách tỉnh táo, chỉ xem đây là biện pháp hỗ trợ tạm thời và cần tham khảo ý kiến bác sĩ khi gặp các vấn đề lo âu kéo dài.







