Lời đồn về thần dược từ mai rùa biển

Nhiều người tìm kiếm mai đồi mồi với niềm tin đây là nguồn dưỡng chất quý hiếm giúp trẻ hóa làn da. Những lời quảng cáo truyền miệng thường thổi phồng công dụng của các loài rùa mai cứng quý hiếm trong tự nhiên. Tuy nhiên, việc sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã nguy cấp tiềm ẩn nhiều rủi ro về mặt pháp lý lẫn chất lượng thực tế.

Khoa học hiện đại không ghi nhận mai đồi mồi có bất kỳ ưu thế sinh học vượt trội nào so với gelatin thực phẩm thông thường. Xét dưới góc độ hóa sinh, collagen từ các loài bò sát mai cứng chỉ là dạng protein cấu trúc tương tự như các nguồn cung cấp gelatin phổ biến.

Cấu trúc sinh hóa của collagen mai rùa

Collagen là loại protein cấu trúc phổ biến nhất ở động vật có xương sống và không xương sống, bao gồm hơn 20 loại khác nhau tùy thuộc vào chức năng trong từng mô tế bào [1]. Protein này tham gia vào việc hình thành mạng lưới sợi và vi sợi của chất nền ngoại bào cũng như màng đáy nhằm duy trì môi trường sống cho mô [1].

Tại mai rùa, lớp vỏ cứng được cấu tạo chủ yếu từ các protein beta dạng sừng, trong khi phần hạ bì bên dưới chứa collagen [2]. Collagen chiết xuất từ mô mai rùa chủ yếu thuộc loại collagen type I với cấu trúc xoắn ba đặc trưng [1, 3, 7]. Khi phân tích thành phần, protein này chứa nhiều glycin cùng hàm lượng imino acid và acid amin kỵ nước vừa phải [1, 7].

Cấu trúc phân tử collagen từ rùa có các motif lặp lại Gly-X-Y điển hình, tương tự như các chuỗi polypeptide được tìm thấy trong da hoặc xương của gia súc, gia cầm [3]. Gelatin thực phẩm thông thường là sản phẩm biến tính nhiệt từ chính các loại collagen này. Do đó, về mặt bản chất đơn vị acid amin sau khi tiêu hóa, cơ thể người hấp thụ collagen từ rùa hay gelatin thông thường đều tương tự nhau.

Bằng chứng khoa học về collagen mai rùa

Các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay chỉ tập trung khảo sát trên loài ba ba mai mềm (Pelodiscus sinensis) hoặc rùa tai đỏ nuôi, hoàn toàn không có dữ liệu chứng minh lợi ích đặc biệt trên đồi mồi hoang dã.

Một nghiên cứu năm 2017 đánh giá phương pháp chiết xuất collagen hỗ trợ bằng sóng siêu âm từ phần diềm mai ba ba mai mềm (Pelodiscus sinensis) [4]. Kết quả cho thấy hàm lượng collagen chiết xuất tăng 16,3% so với phương pháp thông thường [4]. Lượng imino acid đạt từ 197 đến 216 gốc trên 1000 gốc acid amin, và acid amin kỵ nước từ 353 đến 391 gốc trên 1000 gốc [4]. Phân tích quang phổ cho thấy xử lý sóng siêu âm không phá vỡ cấu trúc xoắn ba, đồng thời giúp tăng tính ổn định nhiệt, độ đàn hồi, khả năng giữ nước và tạo nhũ tương [4].

Nghiên cứu hình thái học năm 2021 so sánh quá trình tích tụ collagen ở phôi ba ba mai mềm (Pelodiscus sinensis) và rùa mai cứng (Trachemys scripta elegans) [2]. Dữ liệu chỉ ra rằng cấu trúc hạ bì của rùa mai cứng chỉ chứa các bó sợi collagen mỏng, sắp xếp lỏng lẻo với tỷ lệ collagen type I thấp hơn đáng kể so với ba ba mai mềm [2]. Phần vỏ ngoài cứng nhắc của rùa hạn chế vận động, khác với lớp hạ bì giàu collagen đều đặn giúp ba ba di chuyển linh hoạt [2].

Năm 2016, nghiên cứu tinh chế collagen từ diềm mai ba ba ghi nhận khả năng hấp thụ nước đạt 12,06 g/g và khả năng giữ nước đạt 98,21% [5]. Dược liệu này bị phân hủy hoàn toàn bởi enzyme collagenase sau 72 giờ trong ống nghiệm [5]. Trên mô hình chuột cống trắng chủng SD, vật liệu này cho thấy hiệu quả cầm máu tốt, cải thiện quá trình lành vết thương mà không gây tan máu hay kích ứng da [5].

Cùng năm 2016, các nhà khoa học tối ưu hóa việc tách chiết collagen từ mô viền mai của ba ba nuôi bằng acid citric, giúp tăng lượng thu nhận lên khoảng 3 lần so với acid acetic [6]. Nghiên cứu lưu ý mô này có khả năng tái sinh, cho phép thu nhận vật liệu mà không cần phải giết mổ con vật [6].

Một thử nghiệm tế bào năm 2018 sử dụng tế bào sừng người HaCaT cho thấy việc bổ sung dịch chiết collagen từ ba ba làm thay đổi biểu hiện của hơn 187 protein liên quan đến kết dính tế bào [1]. Quá trình chuyển đổi biểu mô - trung mô được kích hoạt thông qua việc giảm điều hòa E-cadherin, giúp đẩy nhanh tốc độ đóng vết thương trên mô hình tế bào [1].

Năm 2020, nghiên cứu đặc tính nhiệt của collagen mai ba ba xác định hiệu suất thu hồi đạt 1,0% với collagen chiết xuất bằng acid và 2,8% với collagen chiết xuất bằng pepsin [7]. Collagen có khả năng hòa tan thấp nhất ở pH 8 và hòa tan tối đa ở nồng độ muối 3%, cấu trúc vi mô dạng xốp sợi có tính ổn định nhiệt cao [7].

Nghiên cứu biểu hiện gen năm 2016 đã nhân bản đoạn gen 756 bp mã hóa 252 gốc acid amin collagen từ ba ba [3]. Chuỗi protein tái tổ hợp này cho khả năng dọn gốc tự do hydroxyl đạt 98,9% ở nồng độ 3 mg/mL và dọn gốc tự do DPPH đạt 32,7% ở nồng độ 5 mg/mL [3].

Lợi ích thực tế và giới hạn nghiên cứu

Các dữ liệu hiện có chỉ ra tiềm năng của collagen nguồn gốc bò sát trong việc ứng dụng làm màng sinh học cầm máu, mỹ phẩm bôi ngoài hoặc vật liệu y sinh [1, 3, 4]. Điểm mạnh của nguồn này là độ ổn định nhiệt và tính tương thích sinh học trong điều kiện phòng thí nghiệm [1, 7].

Tuy nhiên, toàn bộ các thử nghiệm chỉ dừng lại ở quy mô nuôi cấy tế bào (in vitro) và động vật gặm nhấm [3, 5, 8]. Chưa từng có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên cơ thể người chứng minh việc ăn hoặc uống mai đồi mồi giúp chống lão hóa, đẹp da hay cải thiện sức khỏe vượt trội hơn gelatin tiêu chuẩn. Ngoài ra, việc tách chiết collagen từ vỏ mai rùa đòi hỏi quy trình xử lý hóa chất phức tạp do liên kết mô cứng rất chặt chẽ [4, 7].

Hiểu lầm phổ biến và nguy cơ gian lận

Nhiều người tiêu dùng lầm tưởng rằng động vật càng quý hiếm, sống càng lâu năm thì lượng collagen trong cơ thể càng mang lại giá trị dược liệu thần kỳ. Thực tế, cơ thể người khi ăn collagen sẽ tiêu hóa thành các acid amin tự do và peptide ngắn trước khi hấp thụ, không giữ nguyên cấu trúc protein ban đầu.

Hơn nữa, thị trường dược liệu mai rùa đối mặt với nguy cơ làm giả rất nghiêm trọng. Một nghiên cứu định danh phân tử năm 1998 đối với các mẫu mai rùa dùng làm thuốc cho thấy mức độ sai lệch trình tự gen 12S rRNA giữa các loài dao động từ 3,7% đến 15,7% [8]. Trong số 19 mẫu mai rùa thu thập từ cơ quan kiểm nghiệm dược phẩm, chỉ có duy nhất 3 mẫu thực sự là quy bản chuẩn từ rùa ba gờ (Chinemys reevesii) theo quy định Dược điển, 16 mẫu còn lại đều là sản phẩm giả mạo hoặc thay thế bằng các loài rùa khác [8].

Đồi mồi (Eretmochelys imbricata) là loài nguy cấp được pháp luật quốc tế và Việt Nam bảo vệ nghiêm ngặt. Việc mua bán, tiêu thụ các chế phẩm từ đồi mồi là hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Hơn nữa, việc sử dụng các sản phẩm trôi nổi không rõ nguồn gốc tiềm ẩn nguy cơ nhiễm kim loại nặng và độc chất tích tụ sinh học.

Nhóm đối tượng cần thận trọng

Người tiêu dùng bình thường không nên sử dụng các sản phẩm chế biến từ mai đồi mồi hay các loại rùa tự nhiên trôi nổi trên thị trường. Những người có cơ địa dị ứng với hải sản, thủy sản cần đặc biệt cẩn trọng vì các protein lạ có thể kích hoạt phản ứng miễn dịch quá mẫn.

Phụ nữ mang thai, bà mẹ đang cho con bú và trẻ nhỏ tuyệt đối không sử dụng các chế phẩm rùa tự nhiên hoặc cao nấu thủ công không qua kiểm định an toàn vệ sinh thực phẩm. Người đang mắc các bệnh lý gan, thận mạn tính nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng bất kỳ chế phẩm bổ sung đạm đậm đặc nào.

Giải pháp thay thế an toàn và hợp pháp

Để bổ sung collagen và các acid amin cần thiết cho cơ thể, người tiêu dùng nên lựa chọn các nguồn gelatin thực phẩm hợp pháp được cấp phép y tế. Gelatin tinh khiết chiết xuất từ da, xương động vật nuôi (như bò, lợn, cá basa mặn hoặc ngọt) trải qua quy trình kiểm soát nghiêm ngặt về vi sinh và kim loại nặng.

Về mặt dinh dưỡng, một chế độ ăn cân bằng giàu đạm từ thịt nạc, cá, trứng, sữa kết hợp cùng vitamin C từ rau quả tươi là phương pháp tối ưu giúp cơ thể tự tổng hợp collagen tự nhiên. Không cần thiết phải tốn kém chi phí hoặc vướng vào rủi ro pháp lý để tìm kiếm các sản phẩm từ động vật hoang dã.

Tóm lại, collagen trong mai rùa hay đồi mồi về mặt hóa sinh cơ bản không đem lại hiệu quả vượt trội so với gelatin thương mại thông thường. Hãy bảo vệ sức khỏe và động vật hoang dã bằng cách sử dụng các nguồn thực phẩm dinh dưỡng hợp pháp, minh bạch và an toàn.