Nhiều phụ nữ lo ngại đậu nành gây ung thư vú vì chứa hợp chất giống nội tiết tố nữ. Không ít bệnh nhân sau phẫu thuật loại bỏ hoàn toàn các món từ đậu phụ, sữa đậu nành khỏi bữa cơm hàng ngày vì sợ tái phát.
Các bằng chứng khoa học cho thấy thực phẩm đậu nành tự nhiên an toàn và có thể giảm nguy cơ mắc cũng như tái phát ung thư vú [1, 2, 6]. Mối lo ngại chủ yếu đến từ việc nhầm lẫn giữa estrogen động vật với isoflavone thực vật, hoặc việc lạm dụng thực phẩm chức năng liều cao [1].
Bản chất của isoflavone và cơ chế sinh học
Đậu nành chứa hàm lượng lớn isoflavone. Đây là nhóm polyphenol thực vật có cấu trúc hóa học tương tự như hormone estrogen nội sinh của cơ thể con người [2]. Do sự tương đồng này, isoflavone có khả năng gắn kết với các thụ thể estrogen (ER) trên bề mặt tế bào [3].
Cơ thể người có hai loại thụ thể estrogen chính: alpha và beta. Estrogen nội sinh kích thích thụ thể alpha gây tăng sinh mô ngực. Trong khi đó, isoflavone thực vật gắn ưu tiên lên thụ thể beta, mang lại cả đặc tính kháng estrogen và chống ung thư [4]. Isoflavone cạnh tranh vị trí liên kết với estrogen tự nhiên, từ đó ngăn chặn tác động kích thích tế bào u của hormone nội sinh [3].
Các thử nghiệm can thiệp trên người chỉ ra rằng việc nạp đậu nành không làm tăng nồng độ estradiol lưu hành trong máu [1]. Hợp chất này cũng không gây kích thích các mô đích nhạy cảm với estrogen ở phụ nữ [1]. Ngoài ra, đậu nành còn thể hiện các tác động biểu sinh và tương tác với các yếu tố tăng trưởng như IGF-1 cùng các gen liên quan đến ung thư vú như MDM2, CYP1B1 [5].
Bằng chứng dịch tễ học về nguy cơ mắc mới
Nhiều phân tích tổng hợp quy mô lớn đã được tiến hành để xác định mối liên hệ giữa việc ăn đậu nành và tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú.
Nghiên cứu tổng hợp năm 2011 thu thập dữ liệu từ các báo cáo tiền cứu trên hệ thống y khoa PUBMED tính đến tháng 9 năm 2010 [6]. Đề tài đã phân tích 14 nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh [6]. Kết quả cho thấy mức tiêu thụ isoflavone đậu nành tỷ lệ nghịch với nguy cơ mắc mới ung thư vú, giảm khoảng 11% nguy cơ nói chung (RR = 0,89; khoảng tin cậy 95%: 0,79-0,99) [6].
Mức độ bảo vệ này có sự khác biệt rõ rệt theo khu vực địa lý. Tác dụng phòng ngừa chỉ được ghi nhận có ý nghĩa thống kê ở quần thể người châu Á với mức giảm 24% nguy cơ (RR = 0,76; khoảng tin cậy 95%: 0,65-0,86) [6]. Ngược lại, ở các quần thể phương Tây, hiệu quả bảo vệ không xuất hiện (RR = 0,97; khoảng tin cậy 95%: 0,87-1,06) [6].
Phân tích cũng ghi nhận tình trạng mãn kinh là yếu tố điều chỉnh quan trọng đối với mối liên hệ này [6]. Tuy vậy, các tác giả chưa xác định được mối quan hệ liều lượng - đáp ứng tuyến tính giữa tổng lượng isoflavone nạp vào và nguy cơ mắc bệnh [6].
Đậu nành đối với bệnh nhân ung thư vú và nguy cơ tái phát
Nỗi sợ lớn nhất của người từng mắc ung thư vú là ăn đậu nành khiến khối u tái phát. Dữ liệu từ các nghiên cứu theo dõi đoàn hệ bệnh nhân sau điều trị đã đưa ra nhiều kết quả trực tiếp giải tỏa lo âu này.
Nghiên cứu đoàn hệ LACE (Life After Cancer Epidemiology) năm 2012 theo dõi 1.954 phụ nữ sống sót sau chẩn đoán ung thư vú xâm lấn giai đoạn 1997-2000 trong thời gian trung bình 6,31 năm [2]. Có 282 ca tái phát được ghi nhận [2]. Khẩu phần nạp isoflavone được đo lường bằng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm gửi trung bình 23 tháng sau chẩn đoán [2].
Kết quả nghiên cứu LACE chỉ ra xu hướng giảm nguy cơ tái phát khi tăng lượng daidzein và genistein nạp vào ở phụ nữ sau mãn kinh [2]. Đặc biệt ở nhóm sau mãn kinh có điều trị bằng thuốc tamoxifen, nhóm tiêu thụ daidzein cao nhất (> 1.453 microgram/ngày) giảm khoảng 60% nguy cơ tái phát so với nhóm thấp nhất (< 7,7 microgram/ngày) (HR = 0,48; khoảng tin cậy 95%: 0,21-0,79) [2].
Dự án gộp nghiên cứu sau ung thư vú (After Breast Cancer Pooling Project) năm 2012 quy tụ 9.514 phụ nữ từ 2 đoàn hệ Mỹ và 1 đoàn hệ Trung Quốc, theo dõi trung bình 7,4 năm [4]. Kết quả ghi nhận 1.171 ca tử vong và 1.348 ca tái phát [4]. Bất kể sự khác biệt lớn về mức tiêu thụ giữa hai quốc gia, việc ăn thực phẩm đậu nành vẫn tỷ lệ nghịch với nguy cơ tái phát bệnh [4].
Cụ thể, việc tiêu thụ từ 10 mg isoflavone mỗi ngày trở lên liên quan đến mức giảm tái phát có ý nghĩa thống kê lên tới 25% (HR = 0,75; khoảng tin cậy 95%: 0,61-0,92) [4]. Mức giảm nguy cơ tử vong do ung thư vú đạt 17% nhưng chưa đạt mức ý nghĩa thống kê (HR = 0,83; khoảng tin cậy 95%: 0,64-1,07) [4].
Một nghiên cứu đoàn hệ năm 2010 theo dõi tiêu thụ đạm đậu nành và isoflavone sau chẩn đoán ghi nhận mối liên hệ giảm tử vong và tái phát [3]. Nhóm nạp đạm đậu nành cao nhất giảm 33% tỷ lệ tử vong chung (HR = 0,67; 95% CI: 0,51-0,88) và giảm 34% tái phát (HR = 0,66; 95% CI: 0,52-0,84) so với nhóm thấp nhất [3].
Mối liên hệ nghịch này duy trì dạng tuyến tính theo liều lượng cho đến ngưỡng 11 gram đạm đậu nành mỗi ngày, tương đương khoảng 40 mg isoflavone/ngày [3]. Khi vượt qua mức này, đường tương quan đi ngang hoặc thậm chí bật tăng nhẹ [3]. Hiệu quả bảo vệ xuất hiện ở cả bệnh nhân có thụ thể estrogen dương tính (ER+) lẫn âm tính (ER-) [3].
Nghiên cứu năm 2010 trên 524 bệnh nhân ung thư vú sau phẫu thuật đang dùng liệu pháp nội tiết, theo dõi trung vị 5,1 năm cho thấy: ở bệnh nhân sau mãn kinh, nhóm nạp isoflavone cao nhất (> 42,3 mg/ngày) giảm 33% nguy cơ tái phát so với nhóm thấp nhất (< 15,2 mg/ngày) với HR = 0,67 (95% CI: 0,54-0,85) [7]. Tác dụng tích cực thấy rõ ở nhóm có thụ thể nội tiết dương tính và đang điều trị bằng anastrozole [7].
Tương tác giữa đậu nành và thuốc điều trị nội tiết
Một hiểu lầm phổ biến là isoflavone sẽ chiếm thụ thể, cạnh tranh và làm mất tác dụng của các thuốc ức chế nội tiết tố như tamoxifen hoặc anastrozole.
Thực tế nghiên cứu dịch tễ cho thấy thực phẩm đậu nành không làm cản trở tác dụng điều trị của tamoxifen hay anastrozole [2, 3, 6, 8]. Các dữ liệu tiền cứu xác nhận nhóm dùng tamoxifen kết hợp chế độ ăn có đậu nành không bị tăng rủi ro tái phát [1].
Bệnh nhân có khối u thụ thể nội tiết dương tính đạt tỷ lệ tử vong và tái phát thấp nhất khi thuộc nhóm ăn nhiều thực phẩm đậu nành, bất kể họ có đang dùng tamoxifen hay không [3]. Ở phụ nữ mãn kinh sử dụng anastrozole, lượng isoflavone trong khẩu phần cao còn đi kèm nguy cơ tái phát thấp hơn rõ rệt [7].
Phân biệt thực phẩm tự nhiên và thực phẩm chức năng
Một trong những khác biệt mấu chốt nằm ở liều lượng và dạng dung nạp isoflavone. Chế độ ăn uống truyền thống của người châu Á mang lại lợi ích bảo vệ rõ rệt, không gây bất kỳ tác hại nào cho bệnh nhân ung thư vú [2, 6].
Chế độ ăn truyền thống kiểu Nhật Bản thường cung cấp từ 25 đến 50 mg isoflavone mỗi ngày, tương đương khoảng 2-3 phần khẩu phần thực phẩm đậu nành thông thường [1]. Mức tiêu thụ này được đánh giá an toàn dựa trên dữ liệu quan sát dài hạn ở người [1].
Ngược lại, việc tự ý sử dụng các loại viên uống thực phẩm chức năng, chiết xuất đậu nành hoặc cỏ ba lá đỏ liều cao là vấn đề cần thận trọng. Tổng quan hệ thống năm 2013 chỉ rõ chưa có đủ bằng chứng an toàn để khuyến nghị dùng isoflavone liều cao từ 100 mg/ngày trở lên cho bệnh nhân ung thư vú [1]. Ngoài ra, việc dùng đậu nành để giảm các cơn bốc hỏa thời kỳ mãn kinh cũng không mang lại hiệu quả vượt trội hơn so với giả dược trong các thử nghiệm ngẫu nhiên [1].
Dữ liệu sơ bộ cũng ghi nhận sự khác biệt theo từng phân nhóm u. Một nghiên cứu năm 2012 trên 339 phụ nữ Hàn Quốc theo dõi nguy cơ tái phát theo thụ thể HER2 (với 25 ca tái phát: 17 ca HER2 âm tính, 8 ca HER2 dương tính) [8]. Kết quả cho thấy lượng đậu nành họ đậu (chủ yếu là đậu đen) và isoflavone giúp giảm mạnh tái phát ở người có HER2 âm tính (HR = 0,23; 95% CI: 0,06-0,89) [8]. Tuy nhiên, lượng đậu nành họ đậu lại liên quan thuận với tái phát ở nhóm HER2 dương tính [8]. Nghiên cứu này có số ca bệnh tái phát rất ít nên các chuyên gia nhấn mạnh cần thêm nghiên cứu để kiểm chứng [8].
Ai nên thận trọng khi dùng đậu nành?
Mặc dù thực phẩm từ đậu nành an toàn cho đa số mọi người, một số nhóm đối tượng cần đặc biệt lưu ý và kiểm soát liều lượng.
Bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị và tránh việc nạp dồn dập isoflavone liều cao, do dữ liệu sơ bộ cho thấy nguy cơ tái phát có thể gia tăng ở phân nhóm này [8].
Những người đang có ý định sử dụng thực phẩm chức năng bổ sung isoflavone dạng viên cô đặc, tinh chất mầm đậu nành liều từ 100 mg/ngày trở lên cần dừng lại, bởi bằng chứng về độ an toàn hiện chưa đầy đủ [1]. Bệnh nhân đang trong phác đồ điều trị ung thư vú luôn cần trao đổi với bác sĩ chuyên khoa ung bướu trước khi thay đổi lớn chế độ dinh dưỡng cá nhân.
Hướng dẫn áp dụng đậu nành trong bữa ăn hàng ngày
Đưa đậu nành vào chế độ ăn uống một cách lành mạnh không đòi hỏi phương pháp phức tạp. Người tiêu dùng nên tập trung vào các dạng thực phẩm toàn phần và chế biến truyền thống thay vì các sản phẩm công nghiệp tinh chế.
Lượng dùng tối ưu được ghi nhận qua các nghiên cứu nằm trong khoảng 25-40 mg isoflavone mỗi ngày [6, 7]. Mức nạp này tương đương với khoảng 1-2 bìa đậu phụ nhỏ (khoảng 100-150 gram) hoặc 1 ly sữa đậu nành tươi nguyên chất (khoảng 200-250 ml).
Việc nạp lượng đạm đậu nành khoảng 11 gram mỗi ngày mang lại hiệu quả bảo vệ tốt nhất, không cần thiết phải cố ăn quá nhiều vượt ngưỡng này [3]. Thực đơn hàng ngày nên kết hợp đa dạng các nguồn đạm thực vật, sử dụng đậu phụ, tương đậu nành, đậu lông luộc (edamame) xen kẽ các loại rau xanh và ngũ cốc nguyên hạt.
Người tiêu dùng nên tránh phụ thuộc vào các loại bột đạm phân lập hay thực phẩm chế biến sẵn gắn mác bổ sung isoflavone cô đặc. Thực phẩm tự nhiên vừa cung cấp isoflavone ở nồng độ sinh lý vừa đi kèm chất xơ, khoáng chất giúp cơ thể hấp thu an toàn.
Khoa học hiện đại đã chứng minh thực phẩm đậu nành truyền thống không làm tăng nguy cơ mắc hay tái phát ung thư vú. Việc kiêng kỵ tuyệt đối là không cần thiết và làm mất đi nguồn đạm thực vật chất lượng cao. Bệnh nhân và người dân chỉ cần duy trì lượng ăn vừa phải từ thực phẩm tự nhiên và tuyệt đối tránh xa các viên uống isoflavone liều cao khi chưa có chỉ định y khoa.








