Nhiều nhân viên văn phòng có thói quen chọn lon nước ngọt "zero calo" hoặc "diet" để giải tỏa cơn khát giữa giờ làm việc mà không lo tăng cân. Cảm giác thỏa mãn vị ngọt nhưng nhãn năng lượng ghi 0 kcal khiến không ít người tin rằng đây là giải pháp thay thế hoàn hảo cho đồ uống chứa đường.
Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học cho thấy đồ uống có ga không đường không hoàn toàn trung tính với cơ thể [4, 8]. Việc sử dụng thường xuyên chất làm ngọt nhân tạo có thể can thiệp vào các đáp ứng chuyển hóa, điều hòa đường huyết và tín hiệu thần kinh kiểm soát vị giác [4, 7].
Nhầm lẫn phổ biến về nhãn "không đường"
Nhiều người mặc định không chứa năng lượng đồng nghĩa với việc thức uống đi qua hệ tiêu hóa mà không để lại tác động sinh học nào [1]. Thực tế, cảm giác ngọt trên lưỡi và trong lòng ruột vẫn kích hoạt các thụ thể vị ngọt, báo hiệu cho cơ thể chuẩn bị tiếp nhận nguồn năng lượng từ carbohydrate [1].
Khi chất ngọt nhân tạo không đi kèm calo thực sự, phản ứng sinh lý tự nhiên của cơ thể có thể bị xáo trộn [2]. Các thụ thể vị ngọt thuộc họ T1R và alpha-gustducin không chỉ nằm ở lưỡi mà còn hiện diện trên các tế bào L ở niêm mạc ruột [1]. Điều này khiến chất làm ngọt nhân tạo vẫn kích thích tiết các hormone liên quan đến chuyển hóa đường dù không trực tiếp cung cấp glucose [1].
Hiện tượng ngắt kết nối giữa vị ngọt cảm nhận và năng lượng hấp thu thực tế có thể làm thay đổi phản xạ điều hòa chuyển hóa vốn có theo nguyên lý điều kiện hóa [2]. Hệ quả lâu dài là cơ thể giảm khả năng xử lý hiệu quả lượng đường nạp vào trong các bữa ăn tiếp theo [2].
Tác động lên dung nạp glucose và thụ thể đường ruột
Khi đi vào đường tiêu hóa, chất làm ngọt tác động trực tiếp lên các tế bào cảm nhận vị giác tại ruột [1]. Một thử nghiệm lâm sàng thực hiện trên 22 người trẻ tình nguyện khỏe mạnh (độ tuổi trung bình 18,5 ± 4,2 tuổi) đã kiểm tra cơ chế này [1]. Người tham gia trải qua hai nghiệm pháp dung nạp 75g glucose đường uống, uống ngẫu nhiên 240 ml nước ngọt ăn kiêng hoặc nước có ga thông thường 10 phút trước khi nạp glucose [1].
Kết quả theo dõi trong 180 phút cho thấy mức đường huyết tổng thể không đổi, nhưng nồng độ đỉnh và diện tích dưới đường cong (AUC) của hormone GLP-1 tăng đáng kể ở nhóm dùng nước ngọt ăn kiêng (AUC đạt 24,0 ± 15,2 pmol/l so với 16,2 ± 9,0 pmol/l ở nhóm nước có ga, giá trị P = 0,003) [1]. Nồng độ insulin huyết thanh cũng có xu hướng cao hơn sau khi dùng nước ngọt ăn kiêng dù chưa đạt ý nghĩa thống kê [1].
Dữ liệu này chứng minh chất làm ngọt nhân tạo trong nước ngọt thương mại kết hợp cùng glucose làm tăng tiết GLP-1 thông qua thụ thể vị ngọt trên tế bào ruột [1]. Ở những người béo phì vốn không dùng chất làm ngọt nhân tạo thường xuyên, việc tiêu thụ sucralose trước khi nạp glucose thậm chí dẫn tới đỉnh đường huyết cao hơn, tăng tiết insulin nhưng lại làm giảm độ thanh thải insulin và giảm độ nhạy insulin [2].
Bằng chứng dịch tễ: Mối liên quan với đái tháo đường và hội chứng chuyển hóa
Nhiều nghiên cứu theo dõi dài hạn trên quy mô lớn đã ghi nhận mối tương quan rõ ràng giữa việc tiêu thụ nước ngọt không đường và các bất thường chuyển hóa [2, 8].
Nghiên cứu Đa sắc tộc về Xơ vữa động mạch (MESA) theo dõi 6.814 người trong độ tuổi từ 45 đến 85 từ thời điểm ban đầu và kiểm tra định kỳ 2 năm một lần đến năm 2007 [3]. Ghi nhận có 14% đối tượng uống trên 1 khẩu phần nước ngọt ăn kiêng mỗi ngày, trong khi 59% không bao giờ dùng [3]. Toàn bộ nghiên cứu ghi nhận 871 ca mắc hội chứng chuyển hóa và 413 ca mắc đái tháo đường típ 2 [3].
Phân tích sau khi hiệu chỉnh các biến số gây nhiễu cho thấy những người uống trên 1 khẩu phần mỗi ngày tăng 36% nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa và tăng 67% nguy cơ mắc đái tháo đường típ 2 so với người không dùng [3]. Một nghiên cứu khác tại Nhật Bản do nhóm nghiên cứu của Sakurai thực hiện cũng chỉ ra tỷ lệ mới mắc thô ở người hiếm khi uống là 1,05, trong khi ở nhóm uống 1 khẩu phần mỗi tuần là 1,70 [3].
Nghiên cứu Northern Manhattan (NOMAS) trên 2.019 người tham gia (tuổi trung bình 69 ± 10 tuổi; 64% nữ; 23% da trắng, 22% da đen, 53% gốc Tây Ban Nha) không mắc đái tháo đường ban đầu cũng ghi nhận kết quả tương tự [4]. Thói quen dùng nước ngọt ăn kiêng liên quan độc lập đến sự gia tăng nguy cơ mắc đái tháo đường mới, đặc biệt ở nhóm đối tượng thừa cân hoặc béo phì [4].
Bên cạnh nguy cơ tiểu đường, dữ liệu theo dõi 172 sinh viên đại học trong vòng 9 tháng tại ký túc xá cho thấy 66 sinh viên bị tăng mỡ bụng trung tâm với mức tăng cân trung bình 4,0 kg [3]. Chất chuyển hóa erythritol trong máu có mối liên quan thuận rõ rệt với mức tăng mỡ bụng này, gợi ý khả năng bắt nguồn từ việc dùng nhiều chất làm ngọt hoặc sản phẩm phụ của chuyển hóa [3].
Biến đổi tín hiệu vị giác tại não bộ
Không chỉ dừng lại ở đường tiêu hóa, chất ngọt không calo còn làm thay đổi cách thức não bộ xử lý phần thưởng ngọt [5]. Nghiên cứu sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI) sau 12 giờ nhịn ăn nhằm đánh giá phản ứng vùng não trước đường sucrose tự nhiên và saccharin nhân tạo [5].
Kết quả cho thấy những người có thói quen uống nước ngọt ăn kiêng biểu hiện kích hoạt mạnh hơn đối với vị ngọt tại vùng não giữa dopaminergic (bao gồm vùng trần bụng) và hạch hạnh nhân bên phải [5]. Đáng chú ý, não bộ của người thường xuyên dùng đồ uống ăn kiêng không phân biệt phản ứng giữa đường tự nhiên và đường nhân tạo [5].
Đồng thời, mức độ kích hoạt phần đầu nhân đuôi bên phải khi tiếp xúc saccharin tỷ lệ nghịch với lượng nước ngọt ăn kiêng tiêu thụ hàng tuần [5]. Uống càng nhiều lon nước ngọt thì đáp ứng tại nhân đuôi càng giảm, phản ánh sự thay đổi trong hệ thống khen thưởng và có thể gián tiếp thúc đẩy hành vi ăn uống mất kiểm soát sau đó [5].
Lợi ích giả định và các mặt hạn chế của bằng chứng hiện có
Các thử nghiệm can thiệp ngắn hạn lại cho thấy bức tranh không hoàn toàn đồng nhất [6]. Một nghiên cứu can thiệp kéo dài 13 tuần trên 55 trẻ em và thanh thiếu niên thừa cân (10–21 tuổi) áp dụng chế độ ăn 1.000 kcal/ngày cho thấy: nhóm dùng 2,7 g/ngày aspartame dạng viên nang không khác biệt về mức giảm cân, huyết áp, đường huyết hay mỡ máu so với nhóm dùng giả dược [6].
Một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên khác ở 103 thanh thiếu niên (13–18 tuổi) thay thế đồ uống có đường bằng đồ uống nhân tạo hoặc nước lọc trong 25 tuần [6]. Chỉ số khối cơ thể (BMI) của toàn bộ nhóm can thiệp không có khác biệt mang ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng, dù phân tích khám phá sau can thiệp cho thấy nhóm có thể trạng nặng nhất giảm được 0,63 ± 0,23 kg/m2 (so với nhóm đối chứng tăng 0,12 ± 0,26 kg/m2) [6]. Thử nghiệm 12 tuần trên các bé gái 11–15 tuổi cũng không thấy sự khác nhau về biến thiên BMI giữa nhóm uống nước ngọt có đường và nhóm chỉ dùng nước ngọt ăn kiêng [6].
Thêm vào đó, trong nghiên cứu đoàn hệ MESA, những người thường xuyên uống đồ uống ăn kiêng lại có thói quen ăn uống lành mạnh hơn ở nhiều khía cạnh: ăn nhiều ngũ cốc nguyên hạt, trái cây, sữa ít béo nhưng ít dùng thịt chế biến sẵn và đồ uống có đường thông thường [7]. Tính chất thay đổi của các loại chất làm ngọt công nghiệp qua từng thời kỳ (từ aspartame, saccharin đến sucralose) và việc thiếu các nghiên cứu ngẫu nhiên dài hạn khiến giới khoa học chưa thể quy kết tuyệt đối tác hại sinh học cho một hoạt chất cụ thể nào [7].
Nguy cơ sức khỏe ngoài chuyển hóa
Mối lo ngại về đồ uống có ga không đường không chỉ gói gọn trong vấn đề cân nặng hay đường huyết [8]. Một tổng quan hệ thống năm 2023 rà soát 1.323 bài báo từ 11 cơ sở dữ liệu y khoa và lựa chọn 21 công trình chuyên sâu đã ghi nhận hàng loạt tác động bất lợi tiềm tàng ngoài chuyển hóa [8].
Các nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa việc tiêu thụ quá mức đồ uống có chất làm ngọt nhân tạo với gánh nặng sức khỏe tâm thần, suy giảm phát triển thần kinh ở trẻ, tái cấu trúc cơ tim và làm nặng thêm bệnh võng mạc ở bệnh nhân đái tháo đường [8].
Ngoài ra, tổng quan này còn ghi nhận nguy cơ bệnh thận giai đoạn cuối, tăng nồng độ cồn trong hơi thở khi pha cùng rượu, xói mòn men răng, tăng nguy cơ gãy xương hông, viêm khớp dạng thấp ở phụ nữ, ung thư hạch không Hodgkin, đa u tủy xương ở nam giới và hiện tượng thúc đẩy lão hóa tế bào [8].
Nhóm đối tượng cần thận trọng
Người đã được chẩn đoán đái tháo đường hoặc có biến chứng võng mạc cần đặc biệt cân nhắc, vì đồ uống không đường không giúp cải thiện bệnh lý mà có thể liên quan tới việc làm tăng nặng tổn thương đáy mắt [3, 8].
Những cá nhân thừa cân, béo phì đang muốn dùng nước ngọt không đường để giảm cân không nên xem đây là giải pháp vô hại, bởi nguy cơ mắc đái tháo đường độc lập với chỉ số khối cơ thể vẫn tồn tại ở nhóm này [4].
Phụ nữ có nguy cơ bệnh lý xương khớp, người có vấn đề về thận mạn tính hoặc sức khỏe răng miệng kém cũng cần hạn chế do nguy cơ xói mòn men răng và suy giảm chức năng thận tiến triển [8]. Bệnh nhân đang điều trị bệnh lý nền cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa thay vì tự ý dùng nước ngọt ăn kiêng thay thế hoàn toàn nước uống hằng ngày.
Hướng dẫn sử dụng và thay thế trong đời sống công sở
Nhân viên văn phòng không nên coi đồ uống có ga không đường là nguồn cung cấp nước chính thay thế cho nước lọc tự nhiên. Việc tiêu thụ thường xuyên trên 1 lon (1 serving) mỗi ngày đã được chứng minh làm tăng đáng kể nguy cơ rối loạn chuyển hóa [3].
Nếu có nhu cầu sử dụng, chỉ nên dừng lại ở mức thỉnh thoảng (dưới 1 khẩu phần mỗi tuần) để hạn chế kích hoạt thụ thể GLP-1 đường ruột và biến đổi hệ thống khen thưởng tại não bộ [2, 6, 7]. Tránh uống kèm ngay trước các bữa ăn giàu tinh bột để phòng ngừa hiện tượng tăng đột biến đường huyết và giảm nhạy cảm insulin [4, 6].
Biện pháp bền vững nhất tại bàn làm việc là sử dụng nước lọc, nước khoáng có ga tự nhiên không vị hoặc trà thảo mộc không đường để giải tỏa cơn khát mà không can thiệp vào hệ thống thụ thể vị ngọt.
Lời khuyên cân bằng
Nước ngọt không đường có thể giúp cắt giảm năng lượng tức thì so với nước ngọt thông thường nhưng không phải là thức uống trung tính hay vô hại đối với chuyển hóa sinh học. Việc phụ thuộc lâu dài vào chất làm ngọt nhân tạo vẫn mang lại nhiều nguy cơ cho đường huyết và sức khỏe tổng thể. Lối sống cân bằng bắt đầu từ việc giảm dần nhu cầu về vị ngọt nhân tạo, duy trì chế độ dinh dưỡng tự nhiên và uống đủ nước lọc mỗi ngày.









