Lời đồn về dược liệu trị ung thư
Nhiều người truyền tai nhau dùng vỏ núc nác sắc nước uống trị khối u. Cây núc nác vốn quen thuộc trong y học cổ truyền chữa ho, viêm họng hoặc mẩn ngứa. Thắc mắc vỏ cây này có thực sự tiêu diệt được ung thư hay không xuất hiện ngày càng nhiều trên các diễn đàn mạng xã hội.
Khẳng định vỏ núc nác tiêu diệt được ung thư trên cơ thể người là sai và thiếu căn cứ y khoa. Dữ liệu hiện nay mới ghi nhận dịch chiết có hoạt tính ức chế tế bào ác tính trong ống nghiệm hoặc trên chuột thí nghiệm. Chưa có thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh hiệu quả điều trị ung thư của loại vỏ này trên người bệnh.
Khác biệt giữa ống nghiệm và cơ thể người
Trong ống nghiệm, hợp chất được nhỏ trực tiếp lên lớp tế bào ung thư nuôi cấy trong điều kiện kiểm soát. Hoạt chất tiếp xúc thẳng với tế bào đích mà không gặp rào cản sinh học nào. Nồng độ dùng trong đĩa thí nghiệm thường rất cao để đo phản ứng tế bào.
Cơ thể con người phức tạp hơn nhiều so với đĩa nuôi cấy tế bào. Khi uống thảo dược, các chất phải trải qua chuyển hóa tại dạ dày, ruột non và gan. Rất ít chất giữ nguyên cấu trúc để vào máu đến được vị trí khối u. Độc tính trên gan, thận và tương tác thuốc cũng là rào cản lớn khiến thử nghiệm ống nghiệm khó áp dụng thẳng vào thực tế.
Cơ chế tác động ghi nhận trong phòng thí nghiệm
Nghiên cứu trên tế bào ung thư khoang miệng HSC-3 công bố năm 2021 cho thấy dịch chiết vỏ thân núc nác làm tăng nồng độ gốc oxy hóa phản ứng nội bào (mtROS) [1]. Sự gia tăng này phá vỡ điện thế màng ty thể của tế bào ác tính [1]. Quá trình kích hoạt phản ứng tự chết (apoptosis) thông qua tương tác với protein caspase-3 và PARP [1].
Một nghiên cứu năm 2012 khảo sát dịch chiết không phân cực từ cây núc nác trên dòng tế bào ung thư vú MDA-MB-231 và tế bào thường WRL-68 [2]. Phân đoạn chiết nóng bằng ether dầu hỏa (PHO) tạo độc tính tế bào cao hơn rõ rệt trên dòng ung thư MDA-MB-231 so với dòng tế bào không tạo u WRL-68 [2]. Thử nghiệm ELISA ghi nhận PHO gây phân mảnh DNA tế bào ung thư vú âm tính thụ thể estrogen (MDA-MB-231) mạnh hơn dòng dương tính thụ thể estrogen (MCF-7), đồng thời ức chế sự di chuyển của tế bào [2].
Các dòng tế bào khác phản ứng ra sao?
Năm 2024, một nghiên cứu đánh giá dịch chiết vỏ thân núc nác trên tế bào ung thư cổ tử cung người HeLa [3]. Phân tích HPTLC phát hiện sự hiện diện của flavonoid, phenol, tannin và steroid [3]. Thử nghiệm MTT xác định dịch chiết methanol, ethanol và nước ức chế HeLa với giá trị IC50 lần lượt là 89,43 mcg/mL, 119 mcg/mL và 114,1 mcg/mL [3]. Con số này kém xa thuốc đối chứng doxorubicin vốn có IC50 đạt 3,895 mcg/mL [3].
Ngoài vỏ cây, các bộ phận khác cũng được thử nghiệm. Nghiên cứu năm 2007 ghi nhận hoạt chất baicalein chiết từ quả núc nác ức chế 50% dòng tế bào bạch cầu HL-60 ở nồng độ 25-30 microM sau 24 giờ [4]. Tiếp xúc 36-48 giờ ở liều 10-20 microM làm ngưng chu kỳ tế bào tại pha S hoặc G2/M [4]. Liều cao hơn kích hoạt phân mảnh nhân tế bào theo cơ chế tự chết [4].
Năm 2022, nghiên cứu tách chiết từ lá cây hợp chất oroxyquinone có giá trị IC50 trên tế bào ung thư tuyến tiền liệt PC3 là 58,9 microM [5]. Hợp chất gây ngưng chu kỳ tế bào ở pha S và kích hoạt cơ chế tự chết qua con đường p38 [5]. Năm 2023, nghiên cứu trên tế bào ung thư vú MDA-MB-231 ghi nhận dịch chiết núc nác nồng độ dưới 600 mcg/mL không gây độc tế bào [6]. Dù vậy, liều 25-150 mcg/mL làm giảm di chuyển tế bào và ức chế tạo mạch máu mới, trong đó liều 150 mcg/mL cho hiệu quả ức chế tương đương chất đối chứng pazopanib liều 4,37 mcg/mL [6].
Dữ liệu trên động vật sống cũng chỉ dừng ở mức sơ khởi. Năm 2022, nghiên cứu dùng dịch chiết vỏ rễ núc nác điều trị khối u báng Ehrlich (EAC) và u lympho Dalton (DLA) trên chuột [7]. Dịch chiết liều cao tăng tỷ lệ sống sót của chuột mang u báng thêm 34,97% và giảm thể tích khối u đặc 61,84% [7]. Thử nghiệm trên mô hình chuột bị gây u nhú da bằng DMBA và dầu croton cũng ghi nhận giảm hình thành u nhú từ 67,51% đến 75,63% [7].
Hiểu lầm tai hại khi tự ý trị bệnh
Nhiều người lầm tưởng thảo dược tự nhiên vô hại và có thể dùng thay thế thuốc tây y. Tin đồn uống nước vỏ núc nác chữa dứt ung thư khiến người bệnh trì hoãn phác đồ chuẩn như phẫu thuật hay hóa xạ trị. Sự chậm trễ này làm mất đi thời gian vàng cứu chữa, khiến tế bào ác tính phát triển di căn khắp cơ thể.
Việc tự đun sắc vỏ cây tươi hoặc khô cũng tiềm ẩn rủi ro nhiễm nấm mốc hoặc kim loại nặng từ đất trồng. Dược tính trong vỏ cây phụ thuộc vào thổ nhưỡng, mùa thu hái và phương pháp tách chiết dung môi phức tạp trong phòng thí nghiệm. Nước đun sôi thông thường không thể chiết xuất đúng nồng độ các hoạt chất kháng u như nghiên cứu khoa học công bố.
Nhóm đối tượng cần thận trọng
Người đang tiếp nhận hóa trị hoặc xạ trị ung thư không được tự ý dùng thêm vỏ núc nác. Tương tác thảo dược có thể làm giảm tác dụng tiêu diệt tế bào ác tính của thuốc hoặc tăng độc tính lên tủy xương. Người có bệnh lý nền suy giảm chức năng gan, thận cần tránh hoàn toàn các bài thuốc đun sắc chưa qua kiểm định.
Phụ nữ có thai, người cho con bú và trẻ nhỏ không nên sử dụng dược liệu này do thiếu dữ liệu an toàn sinh sản. Người có tiền sử dị ứng thực vật hoặc viêm loét dạ dày tá tràng mạn tính cũng cần cẩn trọng. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa ung bướu trước khi định dùng bất kỳ loại lá cây hay vỏ cây nào hỗ trợ cơ thể.
Sử dụng hợp lý trong đời sống
Vỏ núc nác trong y học dân tộc chỉ nên xem như vị thuốc hỗ trợ giảm ho, trị dị ứng ngứa ngáy ngoài da theo hướng dẫn của thầy thuốc có chứng chỉ hành nghề. Khi sử dụng, người dùng cần dùng nguồn dược liệu sạch, đã qua sơ chế loại bỏ tạp chất và nấm mốc gây hại.
Không bao giờ dùng vỏ núc nác để tự điều trị bất kỳ khối u hay tổn thương ác tính nào. Cách chăm sóc sức khỏe khoa học nhất là tuân thủ chế độ dinh dưỡng lành mạnh, vận động điều độ và thăm khám định kỳ. Khi có chẩn đoán bệnh ung thư, người bệnh cần đặt trọn niềm tin vào phác đồ y học chứng cứ đã được Bộ Y tế phê duyệt.








