Thói quen truyền miệng nguy hiểm về mật gấu

Nhiều người Việt có thói quen tìm mua mật gấu tự nhiên hoặc mật gấu nuôi nhốt để giải độc gan, hạ men gan sau các buổi liên hoan bia rượu kéo dài. Quan niệm dân gian cho rằng loại mật này có tác dụng thanh nhiệt cực mạnh, giúp phục hồi tế bào gan bị tổn thương nhanh chóng. Tuy nhiên, việc sử dụng các chế phẩm mật động vật trôi nổi tiềm ẩn vô số hiểm họa như ngộ độc, suy thận cấp, nhiễm độc gan và nhiễm ký sinh trùng.

Mặt khác, các quy định pháp luật cùng tinh thần bảo tồn động vật hoang dã ngày nay nghiêm cấm triệt để việc khai thác và thương mại hóa mật gấu. Điều này dẫn đến nhu cầu tìm kiếm các giải pháp thay thế từ thảo dược như silymarin chiết xuất từ cây kế sữa hoặc atiso nhằm hạ men gan an toàn. Song, liệu thảo dược có thực sự thay thế được hoàn toàn cơ chế và hiệu quả sinh học của axit mật hay không?

Y học hiện đại ghi nhận axit ursodeoxycholic (UDCA) là hoạt chất chính mang lại hoạt tính trong mật gấu, nhưng hiện nay chất này được tổng hợp y khoa dạng viên uống tinh khiết chứ không cần khai thác từ động vật hoang dã [1]. Các bằng chứng lâm sàng chỉ ra rằng thảo dược như silymarin và hoạt chất UDCA có cơ chế cũng như mức độ tác động rất khác nhau lên tế bào gan [1, 2].

Axit mật và thảo dược tác động đến gan thế nào?

Để hiểu rõ khả năng bảo vệ gan, cần phân biệt bản chất giữa các loại axit mật nội sinh và các chất chống oxy hóa chiết xuất từ thực vật. Trong hệ tiêu hóa, các axit mật có mức độ gây độc tế bào gan phụ thuộc trực tiếp vào tính kỵ nước (hydrophobicity) và cấu trúc nhóm hydroxyl của chúng [2]. Mức độ độc tính giảm dần theo thứ tự: axit lithocholic độc nhất, tiếp đến deoxycholic, chenodeoxycholic, cholic và cuối cùng là axit ursodeoxycholic (UDCA) ít độc nhất [2].

Cơ chế điều trị của UDCA dựa trên việc làm tăng tính ưa nước tổng thể của toàn bộ lượng axit mật lưu thông trong cơ thể [2]. Khi xảy ra ứ mật, các axit mật kỵ nước độc hại bị giữ lại sẽ phá hủy màng tế bào gan, gây viêm và hoại tử tế bào [2]. Việc bổ sung UDCA giúp thay thế các axit mật có tính tẩy rửa mạnh này, từ đó làm giảm tổn thương màng tế bào gan và giúp hạ nồng độ các men gan lưu thông trong máu [6, 7].

Ngược lại, silymarin là hợp chất flavonoid chiết xuất từ cây kế sữa với đặc tính kháng viêm và chống oxy hóa. Hoạt chất này được xếp vào nhóm chất bảo vệ tế bào gan thông qua cơ chế dọn dẹp gốc tự do và ổn định màng tế bào gan [3]. Do không phải là axit mật, silymarin không có khả năng trực tiếp làm biến đổi tính chất ưa nước hay kỵ nước của dịch mật như cơ chế sinh học của UDCA. Riêng về atiso, hiện các nghiên cứu đối đầu lâm sàng trực tiếp với axit mật vẫn chưa được cung cấp đủ dữ liệu thực chứng.

Bằng chứng lâm sàng của silymarin từ cây kế sữa

Một nghiên cứu công bố năm 1992 đã tiến hành theo dõi việc sử dụng silymarin và UDCA ở các bệnh nhân xơ gan tiến triển do nhiều nguyên nhân khác nhau [3]. Kết quả ghi nhận cả hai hoạt chất đều thể hiện tính an toàn cao và giúp cải thiện đáng kể các chỉ số sinh hóa của quá trình hủy hoại tế bào gan [3]. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ rõ cả silymarin lẫn UDCA đều không làm thay đổi khối lượng chức năng gan còn lại khi đánh giá bằng các xét nghiệm chức năng gan định lượng [3].

Đối với tổn thương gan do thuốc (DILI), một tổng quan lâm sàng năm 2023 cho thấy silymarin là một trong những dược liệu được nghiên cứu nhiều nhất [1]. Trong số 5 nghiên cứu lâm sàng được tổng hợp về silymarin ở nhóm bệnh nhân này, có 3 nghiên cứu hồi cứu, 2 nghiên cứu nhãn mở, ngẫu nhiên hoặc thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi [1]. Dù việc sử dụng silymarin được xác định là an toàn, hiệu quả thực tế của nó lại không nhất quán, chưa được chứng minh chắc chắn hoặc còn nhiều nghi vấn [1].

Đáng chú ý, không có trường hợp tổn thương gan do thuốc nào trong các thử nghiệm trên được đánh giá mối quan hệ nhân quả bằng thang điểm chuẩn RUCAM [1]. Một phân tích bổ sung khác trên các bệnh nhân DILI được điều trị bằng silymarin cũng không ghi nhận cải thiện lâm sàng trong 2 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng được phân tích [1]. Dù hướng dẫn từ Hiệp hội Gan mật Trung Quốc có gợi ý silymarin có thể dùng điều trị viêm gan nhẹ, các nhà khoa học nhấn mạnh bằng chứng này bị hạn chế do chỉ có 3 thử nghiệm phân loại theo độ nặng và số lượng cỡ mẫu còn rất nhỏ [1].

Hiệu quả của axit mật tinh khiết UDCA và TUDCA

Axit ursodeoxycholic tổng hợp là loại axit mật tự nhiên cũng được tìm thấy với tỷ lệ nhỏ trong dịch mật người [1]. Một thử nghiệm lâm sàng năm 1988 thực hiện trên 18 bệnh nhân xơ gan ứ mật nguyên phát và 12 bệnh nhân viêm gan mạn tính được điều trị lần lượt với các liều UDCA 250 mg, 500 mg và 750 mg mỗi ngày, mỗi đợt kéo dài 2 tháng liên tục [2]. Kết quả cho thấy men gan giảm rất mạnh ngay từ liều 250 mg/ngày và tiếp tục giảm sâu hơn khi nâng lên các mức liều cao hơn [2]. Mức độ cải thiện men gan này tỷ lệ thuận với tỷ lệ làm giàu axit mật liên hợp bởi chính UDCA [2].

Năm 1992, một thử nghiệm liều - đáp ứng kéo dài trên 9 bệnh nhân xơ gan do bệnh xơ nang đã khảo sát các liều UDCA đường uống từ 5, 10, 15 đến 20 mg/kg thể trọng mỗi ngày trong các giai đoạn 2 tháng liên tiếp [4]. Mức độ cải thiện chỉ số men gan trong máu đạt mức cao hơn đáng kể ở các liều cao; trong đó liều 20 mg/kg thể trọng/ngày đem lại hiệu quả tương đương liều thấp ở các bệnh lý gan khác do bệnh nhân xơ nang bị giảm hấp thu axit mật [4]. Tỷ lệ làm giàu UDCA trong mật đạt tới 42% ± 6% tổng lượng axit mật ở mức liều cao nhất này [4].

Đối với bệnh viêm xơ đường mật nguyên phát, một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược năm 1992 trên 14 bệnh nhân (gồm 6 người dùng UDCA liều 13-15 mg/kg/ngày và 8 người dùng giả dược) trong 1 năm cho kết quả vượt trội [5]. Nhóm dùng UDCA giảm trung vị bilirubin 50%, phosphatase kiềm giảm 67%, gamma-glutamyltransferase giảm 53%, AST giảm 54% và ALT giảm 36% [5]. Các tổn thương mô bệnh học ở gan cũng cải thiện rõ rệt và sự biểu hiện kháng nguyên bạch cầu người HLA lớp I trên tế bào gan giảm đi đáng kể [5].

Nghiên cứu tiếp theo năm 1994 trên bệnh nhân viêm xơ đường mật nguyên phát (có hoặc không kèm viêm loét đại tràng) dùng liều 750 mg UDCA/ngày cho thấy sự suy giảm có ý nghĩa thống kê của các men gan ALT, AST, ALP và GGT so với giả dược (p < 0.05) [6]. Thậm chí ở giai đoạn mù đôi đối chứng, thử nghiệm phải dừng sớm sau 3 tháng vì 8/10 bệnh nhân ở nhóm giả dược bị tăng men transaminase lên hơn gấp đôi [6]. Bên cạnh UDCA, dẫn xuất axit tauro-ursodeoxycholic (TUDCA) cũng được thử nghiệm chéo năm 1997 trên 23 bệnh nhân xơ gan ứ mật nguyên phát với liều 500 mg/ngày trong hai giai đoạn 6 tháng [7]. Cả UDCA và TUDCA đều cải thiện đồng đều men gan hủy tế bào và men ứ mật mà không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai loại [7].

Kết hợp thảo dược và axit mật: Có khả thi?

Thay vì tìm cách thay thế hoàn toàn một chất đặc hiệu bằng thảo dược, y học đã thử nghiệm sự kết hợp mang tính bổ trợ giữa UDCA và chiết xuất silymarin [8]. Việc phối hợp này nhằm tận dụng tác động hiệp đồng: một mặt giảm bớt tính độc của bể axit mật, mặt khác tăng cường năng lực chống viêm tế bào gan.

Một nghiên cứu lâm sàng công bố năm 2002 thực hiện trên các bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính do nhiễm độc rượu đã chứng minh hiệu quả của hướng tiếp cận này [8]. Ban đầu, 30 bệnh nhân được điều trị đơn độc bằng UDCA liều 450 mg mỗi ngày; sau 6 tháng theo dõi, chỉ số men gan trong huyết thanh của họ đã giảm đi rõ rệt [8].

Đáng chú ý, khi tiến hành trên một nhóm 30 bệnh nhân khác có cùng bệnh cảnh, việc bổ sung thêm 400 mg silymarin mỗi ngày kết hợp cùng phác đồ 450 mg UDCA đã tạo ra sự cải thiện chức năng gan vượt trội hơn hẳn so với việc chỉ dùng đơn độc axit mật [8]. Điều này cho thấy silymarin đóng vai trò một chất hỗ trợ tích cực chứ không thể phủ nhận hoàn toàn vị thế của axit mật chuẩn y khoa.

Những hiểu lầm phổ biến khi sử dụng

Hiểu lầm tai hại nhất là việc đánh đồng tác dụng của hoạt chất UDCA tinh khiết trong phòng thí nghiệm với mật gấu tươi nguyên chất khai thác thủ công. Mật gấu tự nhiên chứa hỗn hợp nhiều thành phần chưa qua kiểm định, có thể lẫn dịch mật kỵ nước độc hại, vi khuẩn, sỏi bùn hoặc độc tố gây suy thận cấp. Uống mật gấu ngâm rượu để giải độc thực chất lại nhân đôi gánh nặng chuyển hóa cho lá gan đang tổn thương.

Ngộ nhận thứ hai là cho rằng dược liệu thảo dược tự nhiên có thể hoàn toàn thay thế UDCA trong việc giải quyết tình trạng ứ mật hoặc các bệnh lý gan tự miễn phức tạp. Như các phân tích khoa học đã chỉ ra, silymarin có tính an toàn cao nhưng hiệu quả điều trị phục hồi men gan còn dao động và chưa đủ bằng chứng thuyết phục trong các bệnh cảnh nặng như tổn thương gan do thuốc [1].

Thêm vào đó, việc hạ men gan đơn thuần trên kết quả xét nghiệm sinh hóa không đồng nghĩa với việc gan đã hồi phục hoàn toàn cấu trúc hay đảo ngược xơ gan. Bằng chứng khoa học năm 1992 đã nêu rõ cả UDCA lẫn silymarin đều không làm tăng khối lượng nhu mô gan chức năng thực tế của người bệnh xơ gan [3]. Ngoài ra, UDCA cũng được ghi nhận là không thể hiện hiệu quả khi tình trạng rối loạn chức năng gan có liên quan mật thiết tới nhiễm virus viêm gan C [3].

Ai nên thận trọng khi dùng các hoạt chất này?

Mặc dù có độ an toàn khá tốt trong các nghiên cứu lâm sàng, người bệnh gan không được tự ý mua thuốc hoặc dược liệu về tự điều trị khi chưa xác định rõ căn nguyên bệnh. Đặc biệt đối với bệnh nhân viêm gan virus C, việc dùng UDCA đã được chứng minh là không mang lại hiệu quả hạ men hay cải thiện chức năng gan rõ rệt [3].

Những người có tiền sử dị ứng, gặp rối loạn tiêu hóa mạn tính hoặc có bệnh lý viêm đại tràng cần hết sức thận trọng với UDCA. Trong nghiên cứu năm 1992 trên bệnh nhân viêm xơ đường mật, đã có trường hợp phải ngừng thuốc do bị tác dụng phụ tiêu chảy vì UDCA [5]. Tương tự, nghiên cứu năm 1994 cũng ghi nhận 2 trường hợp bệnh nhân viêm xơ đường mật có kèm viêm loét đại tràng bị tiêu chảy khi dùng liều 750 mg UDCA/ngày, bắt buộc phải giảm liều xuống 500 mg hoặc 250 mg/ngày mới dung nạp được [6].

Với nhóm bệnh nhân bị tổn thương gan do ngộ độc thuốc (DILI), các hướng dẫn y khoa quốc tế hiện vẫn chưa chính thức khuyến cáo sử dụng UDCA do thiếu các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng đạt chuẩn [1]. Do đó, người bệnh bị tăng men gan cấp tính sau khi uống thuốc tây y cần được bác sĩ chuyên khoa thăm khám căn nguyên thay vì tự ý dùng thảo dược hay axit mật.

Áp dụng thực tế và lời khuyên cân bằng

Để bảo vệ lá gan và xử trí tình trạng men gan tăng, người bệnh cần tuyệt đối từ bỏ thói quen dùng mật gấu tươi hay rượu mật gấu trôi nổi vì hành vi này vừa vi phạm pháp luật vừa đe dọa tính mạng. Nếu phát hiện men gan tăng cao qua xét nghiệm máu, việc đầu tiên là đến bệnh viện chuyên khoa để tìm chính xác nguyên nhân: do rượu bia, do virus viêm gan, gan nhiễm mỡ hay do thuốc.

Trong trường hợp bệnh gan mạn tính do rượu, sự phối hợp giữa UDCA liều 450 mg/ngày cùng chiết xuất silymarin liều 400 mg/ngày có thể được bác sĩ cân nhắc để cải thiện chức năng gan [8]. Với các bệnh nhân ứ mật mạn tính, các mức liều UDCA từ 250 mg đến 750 mg/ngày hoặc liều tính theo cân nặng từ 10 đến 20 mg/kg/ngày cần được bác sĩ chỉ định và theo dõi sát sao nồng độ men AST, ALT, GGT định kỳ [3, 6, 7].

Bên cạnh đó, việc sử dụng các thảo dược bổ trợ như silymarin chỉ nên coi là liệu pháp hỗ trợ tế bào gan ở mức độ nhẹ, không thể thay thế cho các phác đồ điều trị đặc hiệu [1]. Một chế độ dinh dưỡng cân bằng, kiêng rượu bia, uống đủ nước và kiểm soát việc dùng thuốc chuyển hóa qua gan mới chính là nền tảng cốt lõi giúp hạ men gan và duy trì lá gan khỏe mạnh.