Nhầm lẫn phổ biến giữa lá lốt và lá xương sông

Trong gian bếp của nhiều gia đình Việt Nam, lá lốt và lá xương sông là hai loại rau gia vị vô cùng quen thuộc. Cả hai đều có mùi thơm nồng đặc trưng, thường được dùng để cuốn thịt băm, nấu canh hoặc làm rau gia vị át mùi tanh của thực phẩm. Nhiều người tiêu dùng thường băn khoăn liệu hai loại cây này có chung đặc tính trị bệnh hay công dụng chữa đau nhức xương khớp và dạ dày giống nhau không.

Thực tế, dù cùng mang vai trò làm gia vị và vị thuốc dân gian, hai loại cây này thuộc các họ thực vật hoàn toàn khác biệt. Trong khi lá lốt thuộc chi Tiêu (Piper), họ Hồ tiêu (Piperaceae) với tên khoa học là Piper sarmentosum [1, 2], thì xương sông lại thuộc họ Cúc (Asteraceae). Đáng chú ý, các dữ liệu khoa học thực nghiệm hiện có chỉ tập trung làm rõ thành phần và dược tính của lá lốt (Piper sarmentosum) [1, 2, 3], trong khi dữ liệu tương đương trực tiếp cho xương sông vẫn còn rất hạn chế.

Khác biệt cơ bản về phân loại và thành phần hóa học

Lá lốt (Piper sarmentosum) là loài thực vật thân thảo bò trườn phổ biến tại các quốc gia Đông Nam Á [1, 3]. Loài cây này từ lâu đã được ghi nhận trong y học cổ truyền để trị đau răng, sốt, đau ngực, ho, hen suyễn và viêm dạ dày [1, 3]. Các phân tích hóa thực vật chuyên sâu cho thấy lá lốt chứa một kho hợp chất thứ cấp rất phong phú [1, 7].

Một nghiên cứu hóa học công bố năm 2023 đã phân lập được 3 hợp chất mới từ lá cây Piper sarmentosum gồm 4''-(3-hydroxy-3-methylglutaroyl)-2''-beta-D-glucopyranosyl vitexin, kadukoside, 6-O-trans-p-coumaroyl-D-glucono-1,4-lactone, cùng với 31 hợp chất đã biết khác [1]. Trong số 31 chất này, có tới 21 hợp chất lần đầu tiên được tìm thấy ở loài cây này [1]. Về tổng thể, các bộ phận của cây lá lốt tích tụ chủ yếu là ancaloit và flavonoid, riêng lá chứa ưu thế các flavonoid, lignan và phenylpropanoid [2].

Ngược lại, xương sông dù có cùng vai trò thảo mộc nhưng mang cấu trúc hóa học và tinh dầu hoàn toàn khác họ Cúc. Do thiếu dữ liệu phân tích hóa học đối chứng của xương sông trong tài liệu hiện tại, các cơ chế dược lý dưới đây chủ yếu ghi nhận từ thực nghiệm trên lá lốt (Piper sarmentosum).

Đặc tính tinh dầu: Lá lốt mang cấu trúc hương thơm đặc biệt

Mùi vị cay nồng đặc trưng của lá lốt đến từ cấu tạo tinh dầu rất độc đáo so với nhiều loài cùng chi Tiêu. Một nghiên cứu năm 2014 phân tích thành phần tinh dầu của 4 loài thuộc chi Piper tại Việt Nam bằng phương pháp sắc ký khí (GC-FID và GC-MS) đã ghi nhận từ 19 đến 64 hợp chất trong các mẫu dầu, chiếm từ 92,0% đến 98,4% tổng hàm lượng [3].

Kết quả cho thấy tinh dầu lá lốt (P. sarmentosum) thể hiện một đặc điểm hóa học rất riêng biệt: chủ yếu là các hợp chất thơm và hoàn toàn không chứa hydrocacbon monoterpen [3]. Thành phần chính chiếm tỷ lệ cao nhất trong tinh dầu lá lốt là benzyl benzoat (49,1%), tiếp theo là benzyl ancol (17,9%), este phenylmetyl của axit 2-hydroxy-benzoic (10,0%) và 2-butenyl-benzen (7,9%) [3]. Sự vắng mặt của monoterpen và hàm lượng benzyl benzoat gần 50% tạo nên mùi thơm đầm, ấm và khả năng kháng khuẩn tự nhiên của loại lá này [3].

Đáng chú ý, hàm lượng chất chuyển hóa trong lá lốt còn chịu ảnh hưởng mạnh bởi nguồn gốc địa lý và vi khuẩn cộng sinh. Nghiên cứu thực hiện trên cây lá lốt tại Quảng Châu và đảo Hải Nam ghi nhận tới 930 chất chuyển hóa và 82.606 gen đơn vị [4]. Cây trồng ở Quảng Châu tích tụ nhiều ancaloit và chất béo hơn, nhưng lại giảm lượng flavonoid và axit phenolic so với cây ở Hải Nam [4]. Sự tích tụ các chất như phenylalanin, tyrosin, axit p-coumaric và naringenin có mối liên hệ mật thiết với các vi khuẩn định cư trên lá như Flavobacterium và Pseudomonas [4].

Tác dụng trên đường tiêu hóa và bảo vệ dạ dày

Một trong những công dụng nổi bật nhất của lá lốt (Piper sarmentosum) đã được chứng minh qua thực nghiệm là khả năng bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi tổn thương do căng thẳng (stress) [5]. Trong đời sống, cả lá lốt và xương sông đều hay được dùng nấu canh ấm bụng, nhưng cơ chế chống loét của lá lốt đã được khoa học ghi nhận rõ rệt [5].

Nghiên cứu in vivo công bố năm 2019 đã đánh giá tác dụng của chiết xuất metanol lá lốt trên 28 chuột cống trắng đực giống Wistar bị gây loét dạ dày bằng căng thẳng ngâm nước [5]. Động vật thí nghiệm được chia thành 4 nhóm bằng nhau: 2 nhóm đối chứng và 2 nhóm điều trị bằng chiết xuất lá lốt liều 500 mg/kg thể trọng hoặc thuốc tây omeprazole liều 20 mg/kg thể trọng mỗi ngày, kéo dài trong 28 ngày [5]. Sau đó, chuột chịu căng thẳng ngâm nước gò bó trong 3,5 giờ [5].

Kết quả cho thấy việc bổ sung chiết xuất lá lốt qua đường uống có hiệu quả ngăn ngừa hình thành vết loét dạ dày tương đương với omeprazole (p < 0,05) [5]. Chiết xuất này giúp giảm độ axit dịch vị và giảm chất chỉ thị tổn thương màng tế bào MDA do căng thẳng sinh ra [5]. Đáng chú ý, chỉ riêng lá lốt có khả năng làm giảm sự mất mát prostaglandin E2 (p = 0,0067) và làm giảm biểu hiện mRNA của enzym gây viêm cyclooxygenase-2 (COX-2) khi gặp căng thẳng (p = 0,01) [5].

Ở mức độ đường ruột trên mô hình động vật khác, nghiên cứu năm 2021 trên 96 gà con 1 ngày tuổi nhiễm ký sinh trùng Eimeria tenella cho thấy chiết xuất lá lốt giúp giảm điểm tiêu chảy ra máu và giảm bài xuất noãn nang từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 8 sau nhiễm trùng (P < 0,05) [6]. Chiết xuất còn có xu hướng làm tăng phiên mã các yếu tố như IL-4, IL-10, CLDN 1, SOD 1 và Bax so với nhóm đối chứng nhiễm bệnh (P < 0,05) [6].

Hoạt tính giảm viêm, kháng khuẩn và kháng ký sinh trùng

Nhiều hợp chất phân lập từ lá lốt (Piper sarmentosum) thể hiện hoạt tính sinh học mạnh mẽ chống lại vi sinh vật có hại [1]. Khi đánh giá các chất chiết xuất từ lá lốt, các nhà khoa học nhận thấy methyl-3-(4-methoxyphenyl)propionat, isoasarone và trans-asarone thể hiện hoạt tính kháng giun tròn (Caenorhabditis elegans) với giá trị IC50 từ 0,9 đến 2,04 mM [1].

Đối với vi nấm và vi khuẩn, hợp chất kadukoside trong lá lốt có tác dụng ức chế nấm Septoria tritici với IC50 đạt 5,0 microM và ức chế 94% sự phát triển của Phytophthora infestans ở nồng độ 125 microM [1]. Hoạt chất trans-asarone, piperolactam A và dehydroformouregine thể hiện tác dụng ức chế nấm Botrytis cinerea phụ thuộc liều lượng từ 1,5 đến 125 microM với tỷ lệ ức chế lên tới hơn 80% [1]. Các chất paprazine, cepharadione A và piperolactam A có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn Aliivibrio fischeri trên 85% ở nồng độ 100 microM [1]. Một tổng quan năm 2013 cũng chỉ ra rằng loài P. sarmentosum là một trong số các loài chi Tiêu chứa các chất kháng nấm tự nhiên tiềm năng [7].

Về tác động tế bào, các chất phân lập từ lá lốt chỉ thể hiện độc tính tế bào nhẹ trên các dòng tế bào ung thư người PC-3 và HT-29 [1]. Một thử nghiệm năm 2009 cho thấy chiết xuất etanol lá lốt có khả năng ức chế tế bào ung thư gan người HepG2 với IC50 là 12,5 microgam/mL thông qua cơ chế kích hoạt con đường tự chết theo chương trình (apoptosis), làm co cụm tế bào, phân mảnh ADN nhân mà không gây phân mảnh ADN trên dòng tế bào gan không ác tính Chang's liver (IC50 > 30 microgam/mL) [8].

Hiểu lầm thường gặp và giới hạn bằng chứng

Nhiều người lầm tưởng rằng lá lốt và xương sông có thể dùng thay thế cho nhau hoàn toàn trong các bài thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa hay xương khớp. Tuy nhiên, sự khác biệt về bản chất loài học và thành phần hoạt chất cho thấy tác dụng sinh học của chúng không đồng nhất. Việc quy chụp công dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày hay hạ men viêm COX-2 của lá lốt sang cho lá xương sông là thiếu căn cứ khoa học [5].

Ngoài ra, cần nhìn nhận rõ ràng giới hạn của các nghiên cứu hiện tại:

  • Các bằng chứng bảo vệ dạ dày, giảm bài xuất mầm bệnh đường ruột mới chỉ được tiến hành trên động vật thí nghiệm (chuột cống trắng Wistar [5], gà con [6]) hoặc tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm [1, 4].
  • Chưa có các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên cơ thể người để khẳng định chiết xuất lá lốt có thể thay thế thuốc điều trị viêm loét dạ dày như omeprazole [5].
  • Các nghiên cứu kháng nấm của chi Tiêu phần lớn mới dừng ở bước thử nghiệm sinh học đối với các loài nấm trong nông nghiệp chứ chưa thử nghiệm trên các mầm bệnh nấm xâm lấn nguy hiểm ở người [1, 5].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Mặc dù là loại rau ăn quen thuộc, việc sử dụng các chiết xuất đậm đặc từ lá lốt hoặc dùng làm thuốc với liều lượng lớn vẫn cần có sự cẩn trọng nhất định:

  • Người có bệnh lý nền về gan, dạ dày mạn tính: Dù chiết xuất cho thấy khả năng bảo vệ dạ dày ở chuột [5], người bệnh không được tự ý bỏ thuốc kháng axit hoặc thuốc ức chế bơm proton theo chỉ định của bác sĩ để uống nước lá lốt.
  • Phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ: Hiện tại chưa có dữ liệu nghiên cứu khoa học an toàn về việc dùng chiết xuất dược liệu đậm đặc của lá lốt (Piper sarmentosum) trên các đối tượng nhạy cảm này. Do đó, nhóm đối tượng này chỉ nên dùng lá lốt như rau gia vị nấu chín thông thường trong bữa ăn hằng ngày, không tự ý uống nước cốt hay thực phẩm chức năng chiết xuất liều cao.
  • Người chuẩn bị phẫu thuật hoặc đang dùng nhiều loại thuốc điều trị: Cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa do tinh dầu và các ancaloit có thể tương tác với quá trình chuyển hóa dược phẩm.

Gợi ý áp dụng an toàn và khoa học trong đời sống

Trong chế độ ăn uống hằng ngày, người tiêu dùng nên nhìn nhận lá lốt và xương sông đúng với vai trò là những loại rau gia vị giàu hoạt chất sinh học hỗ trợ sức khỏe, không coi là thần dược chữa bách bệnh:

  • Liều lượng sử dụng: Nên dùng một lượng vừa phải lá lốt hoặc lá xương sông như một phần của khẩu phần ăn đa dạng, cân bằng dinh dưỡng. Nếu muốn sử dụng các bài thuốc ngâm, sắc hoặc chiết xuất đậm đặc, cần phải tham khảo hướng dẫn cụ thể từ bác sĩ y học cổ truyền.
  • Chế biến hợp lý: Cả hai loại lá đều chứa tinh dầu dễ bay hơi [3]. Vì vậy, khi chế biến các món như xào, nấu canh, nên cho lá đã thái nhỏ vào sau cùng khi món ăn gần chín tới để bảo toàn các hợp chất este và tinh dầu quý giá [3].
  • Đa dạng hóa nguồn thực phẩm: Tận dụng hương vị nồng ấm của lá lốt trong các món cuốn, nướng hoặc xào giúp kích thích vị giác và hỗ trợ tiêu hóa tự nhiên, trong khi xương sông thích hợp nấu các món canh hải sản hoặc thịt băm để khử tanh hiệu quả.

Lá lốt và xương sông là hai loại lá gia vị mang đậm bản sắc ẩm thực Việt với hương vị đặc trưng riêng. Khoa học đã chỉ rõ lá lốt sở hữu thành phần tinh dầu thơm giàu benzyl benzoat cùng khả năng kháng khuẩn, hỗ trợ bảo vệ dạ dày trong thực nghiệm [2, 3]. Việc kết hợp khéo léo hai loại lá này trong chế độ ăn uống điều độ là cách tốt nhất để vừa nâng cao hương vị món ăn vừa tận dụng nguồn dưỡng chất tự nhiên mà không lo ngại rủi ro cho sức khỏe.