Đau bụng âm ỉ, chướng hơi và rối loạn tiêu hóa kéo dài khiến nhiều người bệnh hội chứng ruột kích thích (IBS) chật vật tìm kiếm giải pháp. Người bệnh thường loay hoay kiêng khem đủ loại thực phẩm hoặc căng thẳng tìm cách kiểm soát cơn đau dạ dày - ruột tái diễn. Nhiều người đặt câu hỏi liệu nên lựa chọn thay đổi thực đơn ăn uống khắt khe hay can thiệp vào yếu tố tâm lý để có kết quả lâu bền hơn.

Nghiên cứu y khoa ghi nhận chế độ ăn giảm FODMAP và liệu pháp thôi miên đường ruột mang lại hiệu quả cải thiện triệu chứng tiêu hóa tương đương nhau [1, 2]. Cả hai phương pháp đều có khả năng duy trì kết quả ổn định sau can thiệp, nhưng liệu pháp tâm lý đem lại thêm lợi thế vượt trội trong việc giải tỏa lo âu và trầm cảm [1].

Hội chứng ruột kích thích và mối liên hệ não - ruột

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là một rối loạn tiêu hóa chức năng phổ biến với tỷ lệ mắc ước tính khoảng 11% đến 11,2% dân số toàn cầu [2]. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng đau bụng tái phát kèm theo thay đổi thói quen đại tiện theo tiêu chuẩn chẩn đoán Rome IV mà không có tổn thương thực thể [3, 5]. Tình trạng này làm suy giảm đáng kể chất lượng sống, giảm hiệu suất làm việc và tạo gánh nặng lớn lên hệ thống y tế khi chiếm tới gần 40% số lượt khám ngoại trú tiêu hóa [2].

Y học hiện đại định nghĩa IBS cùng các rối loạn tiêu hóa chức năng là bệnh lý bắt nguồn từ sự rối loạn tương tác trục não - ruột [4, 5]. Sự nhạy cảm quá mức của các dây thần kinh nội tạng cùng những thay đổi trong cách hệ thần kinh trung ương xử lý tín hiệu từ ống tiêu hóa đóng vai trò then chốt [4, 7]. Yếu tố căng thẳng tâm lý tác động trực tiếp đến nhu động ruột, đồng thời các thành phần thức ăn đi qua lòng ruột cũng tác động ngược lên hệ trục này [3].

Cơ chế tác động: Từ lòng ruột đến hệ thần kinh

Chế độ ăn low-FODMAP tập trung vào việc cắt giảm các nhóm carbohydrate chuỗi ngắn kém hấp thu gồm oligosaccharides, disaccharides, monosaccharides và polyols [4]. Nhóm chất này khó hấp thu ở ruột non do cơ thể thiếu hụt enzyme diềm bàn chải hoặc do giới hạn của các chất vận chuyển biểu mô [4]. Khi xuống đại tràng, chúng kéo nước và bị vi khuẩn lên men nhanh, gây căng trướng thành ruột và đau quặn [4, 6]. Việc giảm nạp FODMAP làm thay đổi lượng chất chứa trong lòng ruột, tác động tích cực đến các tế bào cảm nhận nội tiết đường ruột để điều hòa trục não - ruột [3].

Ngược lại, liệu pháp thôi miên định hướng đường ruột (gut-directed hypnotherapy) tác động trực tiếp từ hệ thần kinh trung ương xuống hệ tiêu hóa [5]. Phương pháp này huấn luyện người bệnh các kỹ năng thôi miên qua từng bước nhằm kiểm soát nhận thức và bình thường hóa chức năng vận động cũng như giảm tính nhạy cảm nội tạng của đường ruột [6]. Khi não bộ học được cách điều chỉnh phản ứng với các tín hiệu kích thích từ ruột, các triệu chứng đau bụng và khó chịu giảm rõ rệt [4, 7].

Thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh chế độ ăn và thôi miên

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng công bố năm 2016 đã so sánh trực tiếp hiệu quả của thôi miên đường ruột và chế độ ăn low-FODMAP [1]. Nghiên cứu tuyển chọn 74 bệnh nhân mắc IBS và chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm: 25 người nhận liệu pháp thôi miên, 24 người áp dụng chế độ ăn low-FODMAP, và 25 người phối hợp cả hai phương pháp [1]. Tiêu chí đánh giá chính là sự thay đổi triệu chứng tiêu hóa tổng thể sau 6 tuần điều trị [1].

Kết quả sau 6 tuần ghi nhận sự cải thiện rõ rệt về điểm số triệu chứng tiêu hóa ở cả 3 nhóm: thôi miên giảm trung bình 33 điểm (khoảng tin cậy 95%: -41 đến -25), ăn low-FODMAP giảm 30 điểm (khoảng tin cậy 95%: -42 đến -19), và nhóm kết hợp giảm 36 điểm (khoảng tin cậy 95%: -45 đến -27) [1]. Mức độ cải thiện triệu chứng từ 20 mm trở lên trên thang đo thị giác (VAS) đạt tỷ lệ lần lượt là 72% ở nhóm thôi miên, 71% ở nhóm ăn kiêng và 72% ở nhóm kết hợp mà không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (P = 0,67) [1]. Đáng chú ý, việc kết hợp đồng thời cả thôi miên và chế độ ăn không tạo ra thêm hiệu ứng cộng dồn nào [1].

Độ bền vững sau điều trị và hiệu quả tâm lý

Về tính bền vững, thử nghiệm lâm sàng năm 2016 đã theo dõi người bệnh trong 6 tháng sau khi kết thúc can thiệp [1]. Tỷ lệ duy trì được mức cải thiện triệu chứng so với ban đầu đạt 74% ở nhóm thôi miên, 82% ở nhóm ăn kiêng và 54% ở nhóm kết hợp [1]. Các triệu chứng tiêu hóa đơn lẻ cũng ghi nhận sự thuyên giảm tương đương giữa các phương pháp [1].

Điểm khác biệt quan trọng nằm ở các chỉ số tâm lý khi liệu pháp thôi miên vượt trội hơn chế độ ăn [1]. Tại thời điểm theo dõi 6 tháng, nhóm thôi miên giảm điểm số lo âu tính khí trung bình là 4 điểm (khoảng tin cậy 95%: -6 đến -2, P < 0,0001) và giảm điểm trầm cảm tính khí 3 điểm (khoảng tin cậy 95%: -5 đến -0,7, P = 0,011) [1]. Trong khi đó, nhóm can thiệp ăn kiêng và nhóm kết hợp không ghi nhận thay đổi có ý nghĩa thống kê về hai chỉ số tâm lý này [1]. Cả ba nhóm đều cải thiện chất lượng cuộc sống ở mức độ tương đương nhau (p <= 0,001) [1].

Ở đối tượng trẻ em mắc chứng đau bụng chức năng và IBS, một nghiên cứu ngẫu nhiên công bố kết quả cho thấy liệu pháp thôi miên đạt tỷ lệ thành công 85% tại thời điểm 1 năm theo dõi, vượt trội so với 25% của chăm sóc y tế tiêu chuẩn [6]. Phản ứng điều trị tích cực này thậm chí còn được duy trì bền vững sau 4,8 năm theo dõi [6]. Ngoài ra, việc nghe thôi miên qua đĩa nén (CD) tự thực hiện cũng cho hiệu quả giảm đau không thua kém việc trị liệu trực tiếp bởi chuyên gia tại các mốc 8 tuần, 6 tháng và 12 tháng [6].

Bằng chứng từ các thử nghiệm ăn kiêng low-FODMAP

Tổng quan y khoa công bố năm 2017 tổng hợp 6 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng so sánh chế độ ăn low-FODMAP với các phương pháp giả dược đều cho thấy kết quả tích cực đồng nhất đối với bệnh nhân IBS [7]. Trong đó, 3 nghiên cứu cung cấp toàn bộ thức ăn sẵn và 3 nghiên cứu sử dụng hướng dẫn từ chuyên viên dinh dưỡng [7]. Trải nghiệm thực tế ghi nhận khoảng 70% bệnh nhân đáp ứng tốt với chế độ ăn này [7]. Đa số người bệnh cảm thấy dễ tuân thủ khi có chuyên viên dinh dưỡng đồng hành, và hiệu quả được duy trì bền vững ngay cả khi bắt đầu ăn lại từng nhóm thực phẩm theo khuyến nghị [7].

Một nghiên cứu can thiệp 6 tuần tại châu Á năm 2023 trên 34 bệnh nhân IBS trưởng thành (gồm 44,1% thể tiêu chảy, 32,4% thể táo bón và 23,5% thể hỗn hợp) cũng ghi nhận 24 bệnh nhân (70,6%) cải thiện triệu chứng và chất lượng sống sau khi áp dụng low-FODMAP [8]. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ cải thiện triệu chứng gắn liền với mức độ tuân thủ chế độ ăn: đạt 92,9% ở nhóm tuân thủ tốt so với 46,7% ở nhóm tuân thủ kém (P = 0,014) [8].

Tuy nhiên, chế độ ăn low-FODMAP không phải là giải pháp hoàn hảo cho tất cả mọi người. Các tổng quan nghiên cứu chỉ ra có khoảng 30% bệnh nhân IBS không đáp ứng với can thiệp dinh dưỡng này [2]. Mặt khác, hiệu quả duy trì lâu dài và các tác dụng phụ tiềm ẩn về mặt thiếu hụt dinh dưỡng của chế độ ăn hạn chế này hiện vẫn còn chưa chắc chắn [3].

Hiểu lầm thường gặp khi điều trị IBS

Nhiều người lầm tưởng rằng đã mắc IBS thì bắt buộc phải kiêng khem ăn uống tuyệt đối suốt đời. Trên thực tế, các nghiên cứu quan sát cho thấy hiệu quả thuyên giảm triệu chứng vẫn được bảo tồn ngay cả trong giai đoạn giới thiệu lại dần các loại FODMAP vào bữa ăn thường ngày [7]. Việc kiêng khem quá mức và kéo dài không cần thiết có thể làm thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột và gây thiếu chất [5, 8].

Một hiểu lầm khác là kết hợp càng nhiều phương pháp thì hiệu quả trị bệnh càng tăng gấp đôi. Thử nghiệm ngẫu nhiên năm 2016 đã chứng minh việc kết hợp cả ăn low-FODMAP lẫn thôi miên không đem lại thêm hiệu ứng cộng hưởng hay làm tăng tỷ lệ đáp ứng so với việc thực hiện đơn lẻ từng liệu pháp [1]. Nhóm kết hợp thậm chí chỉ duy trì tỷ lệ đáp ứng 54% sau 6 tháng, thấp hơn tỷ lệ 74% của thôi miên đơn thuần và 82% của chế độ ăn đơn thuần [1].

Ai nên thận trọng khi lựa chọn phương pháp?

Bệnh nhân IBS không nên tự ý áp dụng chế độ ăn kiêng ngặt nghèo mà cần có sự đánh giá y khoa ban đầu để loại trừ các dấu hiệu cảnh báo bệnh lý nguy hiểm khác [3]. Chế độ ăn low-FODMAP chỉ nên xem là can thiệp ban đầu phù hợp khi người bệnh có chỉ định áp dụng một thực đơn hạn chế và lý tưởng nhất là có chuyên viên dinh dưỡng hướng dẫn [7]. Người có nguy cơ suy dinh dưỡng, thể trạng quá yếu hoặc có tiền sử rối loạn ăn uống cần hết sức cẩn trọng trước khi giới hạn thực phẩm [3].

Đối với liệu pháp thôi miên đường ruột, dù là can thiệp an toàn nhắm vào hệ thần kinh trung ương, người bệnh vẫn cần được chẩn đoán xác định IBS đúng theo tiêu chuẩn lâm sàng Rome IV [3, 4]. Nếu bệnh nhân có các rối loạn tâm thần phức tạp chưa được kiểm soát, việc thăm khám với bác sĩ chuyên khoa tâm thần hoặc chuyên gia tâm lý lâm sàng là bắt buộc trước khi bắt đầu liệu trình [1]. Người bệnh có bệnh lý nền kèm theo hoặc đang sử dụng thuốc điều trị cần hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa trước khi thay đổi bất kỳ phác đồ nào.

Gợi ý áp dụng thực tế và xây dựng lối sống cân bằng

Đối với người chọn can thiệp dinh dưỡng, chế độ ăn low-FODMAP cần được thực hiện qua các giai đoạn rõ ràng thay vì kiêng khem mù quáng [7]. Giai đoạn đầu cắt giảm nghiêm ngặt các thực phẩm giàu fructose, lactose, fructan hay polyol trong khoảng 6 tuần [2, 8]. Sau đó, người bệnh cần từng bước thử nghiệm đưa lại từng nhóm thực phẩm với lượng nhỏ để nhận diện chính xác món ăn gây kích ứng của riêng mình, từ đó duy trì chế độ ăn đa dạng nhất có thể [7]. Người bệnh nên chuẩn bị thực phẩm tươi, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn chứa đường siro ngô hàm lượng fructose cao hoặc sữa chua chứa lactose nếu bản thân nhạy cảm [5].

Đối với người chọn hướng tiếp cận tâm lý, liệu pháp thôi miên đường ruột là lựa chọn ưu tiên khi bệnh nhân IBS có kèm theo tình trạng căng thẳng, lo âu mạn tính hoặc triệu chứng tiêu hóa bùng phát rõ sau các đợt áp lực [1]. Người bệnh có thể tiếp cận qua các chuyên gia được đào tạo bài bản hoặc tận dụng các chương trình hướng dẫn chuẩn hóa được cung cấp qua bản ghi âm [6]. Việc kiên trì rèn luyện kỹ năng thư giãn và tập trung điều hòa nhịp thở mỗi ngày đóng vai trò quyết định đến hiệu quả giảm tính nhạy cảm của ruột [6].

Cả liệu pháp thôi miên đường ruột và chế độ ăn low-FODMAP đều là những phương án can thiệp khoa học mang lại hiệu quả bền vững cho người mắc hội chứng ruột kích thích. Việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc lớn vào đặc điểm cá nhân, biểu hiện tâm lý kèm theo và khả năng duy trì lối sống của từng người bệnh. Lắng nghe phản hồi từ cơ thể và phối hợp chặt chẽ với nhân viên y tế sẽ giúp người bệnh tìm ra lộ trình ổn định sức khỏe đường ruột tối ưu nhất.