Phẫu thuật giảm béo giúp nhiều phụ nữ độ tuổi sinh sản cải thiện cân nặng và khả năng thụ thai [2, 3]. Tuy nhiên, việc thay đổi cấu trúc đường tiêu hóa khiến cơ thể giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng nghiêm trọng [1, 2]. Bước vào thai kỳ sau mổ, người mẹ đối mặt nguy cơ thiếu hụt vi chất, đe dọa sự phát triển của thai nhi nếu không theo dõi sát [2, 8].
Thai phụ từng phẫu thuật bariatric rất dễ bị thiếu hụt vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin B12, folate (vitamin B9) và sắt do diện tích hấp thu bị thu hẹp cùng sự sụt giảm dịch tiêu hóa [1, 8]. Tình trạng này không thể bù đắp đơn thuần bằng khẩu phần ăn thông thường mà bắt buộc phải có phác đồ theo dõi máu và bổ sung vi chất chuyên biệt [4, 6, 8].
Cơ chế khiến cơ thể kém hấp thu vi chất sau mổ
Phẫu thuật giảm béo được phân loại thành nhóm hạn chế (như thắt đai dạ dày, tạo hình dạ dày ống tay áo), nhóm giảm hấp thu hoặc phương pháp kết hợp cả hai như nối tắt dạ dày Roux-en-Y hay chuyển dòng mật tụy (BPD, BPD/DS) [1]. Ở các can thiệp này, cấu trúc đường tiêu hóa bị biến đổi vĩnh viễn hoặc tạm thời [1]. Việc cắt bớt dạ dày hoặc nối tắt qua tá tràng và hỗng tràng làm đảo lộn hoàn toàn sinh lý tiêu hóa bình thường [1].
Các rối loạn chuyển hóa và thiếu hụt dinh dưỡng diễn ra thường xuyên hơn ở nhóm can thiệp giảm hấp thu so với nhóm thuần túy hạn chế thể tích [1]. Cơ chế dẫn tới thiếu hụt vi chất xuất phát từ nhiều yếu tố: giảm khẩu phần ăn hằng ngày, giảm tiết axit dạ dày (achlorhydria) và loại bỏ các đoạn ruột quan trọng chuyên trách việc tiếp nhận chất dinh dưỡng [1, 8].
Đối với vitamin B12, dạ dày bị thu nhỏ làm giảm tế bào tiết axit và yếu tố nội tại cần thiết để gắn kết và hấp thu vitamin này [1, 8]. Với sắt, môi trường thiếu axit cản trở quá trình khử sắt sang dạng hấp thu được; đồng thời thủ thuật nối tắt bỏ qua tá tràng và hỗng tràng gần - vốn là vị trí tiếp nhận sắt chính của cơ thể - khiến tỷ lệ thiếu sắt tăng vọt [2]. Tương tự, sự hấp thu folate bị gián đoạn do thay đổi môi trường pH đường ruột và giảm diện tích tiếp xúc niêm mạc sau các phẫu thuật chuyển dòng [4, 6].
Bằng chứng khoa học: Tỷ lệ thiếu hụt vi chất trên thai phụ
Các nghiên cứu lâm sàng ghi nhận tình trạng suy giảm vi chất diễn biến phức tạp trong suốt các giai đoạn mang thai.
Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu công bố năm 2014 đánh giá nồng độ vi chất trên 49 thai phụ từng mổ giảm cân (gồm 18 người thuộc nhóm hạn chế và 31 người thuộc nhóm giảm hấp thu) [3]. Kết quả cho thấy phần lớn các vi chất dinh dưỡng bị cạn kiệt và sụt giảm đáng kể theo tuổi thai [3]. Tỷ lệ thai phụ bị thiếu máu nhẹ tăng từ 22% ở ba tháng đầu lên 40% vào thời điểm sinh nở [3]. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu vitamin A tăng lên 58% và thiếu vitamin B1 tăng lên 17% lúc chuyển dạ [3]. Nghiên cứu cũng ghi nhận dù 57,1% phụ nữ uống bổ sung đa vitamin trong tam cá nguyệt đầu và nâng lên 69,4% đến 73,5% ở các tam cá nguyệt sau, việc bổ sung này không cho thấy mối liên hệ rõ rệt trong việc ngăn ngừa toàn bộ các thiếu hụt [3].
Một nghiên cứu quan sát hồi cứu năm 2024 khảo sát 164 thai kỳ đơn thai trên 91 phụ nữ từng phẫu thuật giảm cân, ghi nhận các can thiệp giảm hấp thu khiến nồng độ huyết thanh của hemoglobin, ferritin, canxi, kẽm, đồng, vitamin A và E thấp hơn rõ rệt [4]. Tỷ lệ thiếu hụt đặc biệt nghiêm trọng trong ba tháng cuối: 31,8% thai phụ có hemoglobin dưới 11 g/dl và có tới 85,7% trường hợp có ferritin dưới 30 mg/ml [4]. Ngoài ra, tỷ lệ thiếu kẽm dưới 50 mcg/dl chiếm 32,4%, và thiếu vitamin D dưới 30 ng/ml chiếm 75,5% [4].
Một báo cáo ca lâm sàng năm 2021 mô tả một phụ nữ sau mổ bariatric bị suy dinh dưỡng nặng qua các lần mang thai [1]. Người này từng bị thai chết lưu trong tử cung (IUFD) ở lần mang thai đầu và sinh non muộn ở lần thứ hai do thai kém phát triển [1]. Đến thai kỳ thứ ba, nhờ được truyền dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa (TPN) kịp thời, sản phụ đã giữ được thai đủ tháng an toàn [1].
Nguy cơ cho mẹ và sự phát triển của thai nhi
Tình trạng thiếu máu do thiếu sắt và thiếu hụt B12, folate gây suy kiệt sức khỏe người mẹ, làm tăng nguy cơ mệt mỏi mạn tính và biến chứng sản khoa [5, 8]. Khi cơ thể mẹ không có đủ dưỡng chất dự trữ, bánh nhau không thể vận chuyển đủ lượng vi chất cần thiết cho thai nhi [2, 5].
Nghiên cứu năm 2024 xác nhận rằng trẻ sơ sinh từ các bà mẹ từng mổ giảm hấp thu có nguy cơ cao rơi vào nhóm cân nặng dưới bách phân vị thứ 3 so với quần thể chuẩn [4]. Trong số các trẻ sinh ra ở nghiên cứu này, cân nặng trung bình đạt 2966 g, có 26,8% trẻ dưới bách phân vị thứ 10 và 13,8% dưới bách phân vị thứ 3 [4]. Tình trạng giảm đồng trong máu ở ba tháng đầu hoặc giảm kẽm ở ba tháng cuối liên quan trực tiếp đến việc giảm bách phân vị cân nặng sơ sinh [4].
Một báo cáo năm 2021 trình bày hai ca lâm sàng chậm tăng trưởng trong tử cung (IUGR) sau mổ nối tắt dạ dày Roux-en-Y [5]. Cả hai thai phụ đều hạn chế quá mức năng lượng nạp vào, dẫn tới thai nhi bị suy dinh dưỡng trong tử cung phát hiện ở tuần 35 và tuần 28 [5]. Trường hợp đầu phải mổ cấp cứu ở tuần 35 với trẻ sinh ra nặng 1690 g (dưới bách phân vị thứ 1); trường hợp thứ hai phải mổ ở tuần 36 với cân nặng trẻ đạt 2095 g (bách phân vị thứ 5) [5].
Ngoài ra, việc thiếu hụt canxi kết hợp thiếu vitamin D dẫn đến nguy cơ loãng xương ở mẹ, giảm tiết canxi vào sữa mẹ và ảnh hưởng đến quá trình khoáng hóa xương của thai nhi [2].
Hiểu lầm thường gặp về dinh dưỡng thai kỳ sau phẫu thuật
Nhiều phụ nữ lầm tưởng rằng chỉ cần duy trì viên uống vitamin tổng hợp dành cho bà bầu là đủ bảo vệ thai nhi. Thực tế, nghiên cứu năm 2014 chứng minh việc dùng vi chất thông thường không đủ để ngăn ngừa hết các thiếu hụt do cơ chế hấp thu đã bị cắt ngắn [3]. Các chế phẩm tổng hợp phổ thông thường chứa liều lượng không đủ bù đắp sự thất thoát sau phẫu thuật giảm hấp thu [4, 6].
Một sai lầm khác là tâm lý sợ tăng cân trở lại trong thai kỳ [5]. Nỗi lo này khiến nhiều thai phụ siết chặt khẩu phần calo, ăn kiêng quá mức, từ đó đẩy thai nhi vào tình trạng suy dinh dưỡng bào thai nghiêm trọng [5]. Nghiên cứu năm 2013 chỉ ra chỉ có khoảng 59% phụ nữ sau phẫu thuật duy trì thói quen uống vitamin bổ sung dài hạn, số còn lại bước vào thai kỳ trong tình trạng thiếu vi chất tiềm ẩn từ trước [2]. Bản thân người thừa cân, béo phì trước phẫu thuật cũng thường tiềm ẩn thiếu vitamin B1, B6, C, axit folic, vitamin D và sắt do chế độ ăn mất cân đối trước đó [6].
Những nhóm thai phụ cần đặc biệt thận trọng
Phụ nữ mang thai từng thực hiện các phẫu thuật dạng giảm hấp thu như nối tắt dạ dày Roux-en-Y hay phẫu thuật chuyển dòng mật tụy (BPD, BPD/DS) thuộc nhóm rủi ro cao nhất [1, 5]. Các biến đổi giải phẫu ở nhóm này khiến khả năng hấp thu khoáng chất và vitamin tan trong dầu giảm sút sâu sắc hơn nhiều so với phẫu thuật hạn chế đơn thuần như thắt đai dạ dày [1, 5, 6].
Những thai phụ có khoảng cách thụ thai quá gần thời điểm mổ bariatric cũng cần được giám sát chặt chẽ [6]. Giai đoạn này tốc độ sụt cân diễn ra nhanh chóng, nguy cơ cạn kiệt dinh dưỡng song hành cùng mức giảm cân nặng [6]. Phụ nữ có tiền sử thiếu máu, chế độ ăn kiêng khem, hoặc từng gặp biến chứng sản khoa do thai chậm phát triển ở các lần mang thai trước cũng bắt buộc phải theo dõi y khoa đặc biệt [1, 7].
Hướng dẫn theo dõi và áp dụng trong thực tế
Để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé, việc can thiệp dinh dưỡng cần được thực hiện ngay từ giai đoạn chuẩn bị mang thai thay vì đợi đến khi thụ thai mới xử trí [4, 8].
Phụ nữ sau mổ giảm béo cần thực hiện xét nghiệm định kỳ suốt thai kỳ để kiểm tra các chỉ số: công thức máu, nồng độ ferritin, vitamin B12, folate, vitamin D, canxi, thiamin (B1), cùng các vi chất kẽm và đồng (nhất là sau mổ Roux-en-Y) [7]. Nếu thực hiện phẫu thuật BPD/DS, cần kiểm tra thêm nhóm vitamin tan trong dầu (A, D, E, K) [7].
Về việc bổ sung chất khoáng, phụ nữ mang thai sau phẫu thuật nối tắt được khuyến cáo tăng lượng canxi lên 2000 mg canxi citrat kết hợp cùng vitamin D (từ 50-150 mcg) mỗi ngày, thay vì mức 1000 mg canxi citrat kèm 10 mcg vitamin D thông thường [2]. Dạng canxi citrat được ưu tiên vì có thể hấp thu tốt mà không phụ thuộc vào nồng độ axit trong dạ dày [2]. Đối với sắt, do tình trạng giảm hấp thu và thiếu axit, cần phối hợp với bác sĩ để chỉ định dạng bổ sung phù hợp, thậm chí dùng đường tiêm truyền tĩnh mạch nếu việc uống không hiệu quả [4, 8].
Bên cạnh việc dùng chế phẩm bổ sung, thai phụ cần siêu âm theo dõi chỉ số sinh trắc học thai nhi định kỳ để phát hiện sớm các dấu hiệu chậm tăng trưởng trong tử cung [7, 8]. Tuyệt đối không tự ý áp dụng chế độ ăn giảm cân hay cắt giảm calo trong thai kỳ mà không có sự đồng ý của bác sĩ chuyên khoa [5].
Lời khuyên cho một thai kỳ an toàn
Phẫu thuật bariatric mang lại lợi ích to lớn trong việc giảm thiểu các nguy cơ bệnh lý do béo phì gây ra trong thai kỳ [2, 5]. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi ích đó thành sự an toàn cho đứa trẻ, người mẹ cần chủ động phòng ngừa hội chứng kém hấp thu vi chất dinh dưỡng [2, 8].
Việc thăm khám định kỳ, làm xét nghiệm máu kiểm tra vi chất và tuân thủ đơn bổ sung chuyên biệt là điều kiện bắt buộc [4, 6]. Thai phụ cần trao đổi cởi mở với bác sĩ sản khoa và chuyên gia dinh dưỡng về tiền sử phẫu thuật của mình, tránh việc tự ý dùng thuốc hoặc kiêng khem quá mức, giúp thai nhi phát triển toàn diện suốt thai kỳ [7, 8].









