Nhiều người mắc đái tháo đường thường băn khoăn vì sao vết xước nhỏ ngoài da hay đợt cảm cúm thông thường lại lâu lành, thậm chí dễ mưng mủ và chuyển biến nặng. Thực tế, tình trạng đường huyết tăng cao kéo dài làm suy giảm hoạt động của hệ thống miễn dịch tự nhiên, đặc biệt là khả năng phản ứng của tế bào bạch cầu [1, 3].

Kiểm soát đường huyết về ngưỡng mục tiêu thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý chính là chìa khóa then chốt giúp tế bào miễn dịch phục hồi chức năng di chuyển và tiêu diệt mầm bệnh [1, 2].

Đường huyết cao làm suy yếu hệ miễn dịch ra sao?

Khi cơ thể dung nạp quá nhiều carbohydrate tinh chế, nồng độ glucose trong máu tăng vọt sẽ gây ức chế trực tiếp lên các tế bào miễn dịch bẩm sinh [2, 5]. Trong đó, bạch cầu trung tính – lực lượng phản ứng nhanh đầu tiên của cơ thể trước các tác nhân xâm nhập – bị suy giảm nghiêm trọng khả năng hóa ứng động (chemotaxis), tức khả năng định hướng và di chuyển đến ổ viêm [1, 3].

Bên cạnh hiện tượng suy giảm hóa ứng động, đường huyết cao còn làm giảm khả năng thực bào (phagocytosis) và ức chế quá trình bùng nổ oxy hóa (oxidative burst) – cơ chế tiết ra các chất oxy hóa mạnh để tiêu diệt vi khuẩn đã bị nuốt [1, 2]. Thử nghiệm in vitro cho thấy nồng độ glucose ở mức 200 mg/dL chỉ trong 30 phút đã làm giảm quá trình bùng nổ hô hấp của bạch cầu trung tính, và mức glucose 500 mg/dL trên mô hình in vivo làm suy giảm hàng rào phòng thủ bẩm sinh tại các vị trí nhiễm trùng [1].

Không chỉ làm tê liệt bạch cầu, tình trạng tăng đường huyết mạn tính còn kết hợp với tổn thương mạch máu và biến chứng thần kinh ngoại biên, làm giảm tưới máu mô và suy yếu tính toàn vẹn của các hàng rào bảo vệ cơ thể [1, 5]. Sự xáo trộn hệ vi sinh vật tại da, niêm mạc và đường ruột dưới môi trường nhiều đường cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn độc lực cao phát triển [1, 6].

Bằng chứng khoa học về gánh nặng nhiễm trùng ở người đái tháo đường

Các nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa bệnh đái tháo đường và tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm [1, 6].

Một tổng quan công bố năm 2025 chỉ ra người mắc đái tháo đường đối mặt với nguy cơ nhiễm trùng thông thường lẫn nhiễm trùng nặng tăng từ 1,5 đến 4 lần, và nhiễm trùng là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật cũng như tử vong ở nhóm này [2]. Tình trạng này khiến người bệnh dễ mắc viêm đường tiết niệu (đặc biệt là áp xe thận, viêm đài bể thận sinh khí), viêm tủy xương, nhiễm trùng bàn chân, viêm phổi (kể cả cúm), lao, nhiễm trùng da mô mềm, cùng các hội chứng nguy hiểm hiếm gặp như viêm túi mật sinh khí hay nhiễm nấm đen mucormycosis mũi - ổ mắt [2].

Tại Anh, một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu quy mô lớn trên 102.493 bệnh nhân đái tháo đường so sánh với 203.518 người đối chứng cho thấy tỷ số tỷ lệ (IRR) nhập viện do nhiễm trùng là 3,71 ở người đái tháo đường tuýp 1 và 1,88 ở người đái tháo đường tuýp 2 [3]. Nghiên cứu ước tính 6% ca nhập viện và 12% ca tử vong liên quan đến nhiễm trùng xuất phát từ nguyên nhân đái tháo đường [3].

Dữ liệu mạng lưới giám sát chăm sóc ban đầu tại Canada trên 1.779 bệnh nhân đái tháo đường so với 11.066 đối chứng cũng ghi nhận nguy cơ nhiễm trùng tăng với tỷ số chênh hiệu chỉnh là 1,21 [3]. Tại Đan Mạch, nghiên cứu theo dõi 155.158 bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 và 774.017 đối chứng trong thời gian trung vị 2,8 năm cho thấy tỷ lệ kê đơn kháng sinh ngoại trú tăng 1,24 lần và tỷ lệ nhiễm trùng điều trị tại viện tăng 1,49 lần [3].

Nghiên cứu phẫu thuật năm 2019 ghi nhận đái tháo đường làm tăng đáng kể các biến chứng nhiễm trùng hậu phẫu như nhiễm khuẩn huyết, viêm mô tế bào, viêm cân mạc hoại tử, viêm đài bể thận cấp và viêm khớp nhiễm khuẩn [4]. Nghiên cứu này cũng phát hiện 11,3% bệnh nhân phẫu thuật có đái tháo đường chưa từng được chẩn đoán (HbA1c từ 6,5% trở lên) [4].

Nghiên cứu năm 2018 trên bệnh nhân ung thư hạch không Hodgkin điều trị hóa trị phác đồ R-CHOP hoặc DA-EPOCH-R cho thấy tình trạng tăng đường huyết trước điều trị liên quan trực tiếp đến việc trì hoãn chu kỳ do nhiễm trùng hoặc giảm liều do biến chứng thần kinh [1]. Ngoài ra, một phân tích gộp năm 2018 gồm 10 nghiên cứu quan sát trên bệnh nhân ung thư cho thấy đái tháo đường hoặc tăng đường huyết làm tăng 32% tỷ số chênh mắc chứng giảm bạch cầu trung tính do hóa trị (OR = 1,32; khoảng tin cậy 95%: 1,06 - 1,64), dù kết quả có độ không đồng nhất cao (I2 = 72,9%) [5].

Phản ứng viêm quá mức và diễn tiến bệnh nặng

Bên cạnh việc làm giảm khả năng bắt giữ vi khuẩn của bạch cầu, đái tháo đường và béo phì còn duy trì trạng thái viêm mạn tính mức độ thấp do mô mỡ tăng tiết các cytokine như leptin, yếu tố hoại tử u alpha (TNF-alpha) và interleukin-6 (IL-6) [6].

Một nghiên cứu so sánh 37 bệnh nhân COVID-19 mắc đái tháo đường với 137 bệnh nhân không đái tháo đường cho thấy nhóm đái tháo đường có số lượng tuyệt đối bạch cầu trung tính, nồng độ protein phản ứng C (CRP), d-dimer, ferritin huyết thanh, tốc độ lắng hồng cầu (ESR), IL-6 và fibrinogen cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) [6]. Trạng thái tăng viêm và tăng đông máu này có thể thúc đẩy cơn bão cytokine, khiến tình trạng bệnh hô hấp diễn tiến xấu đi nhanh chóng [6].

Nghiên cứu năm 2015 về nhiễm trùng khoang mạc hàm mặt ghi nhận bệnh nhân đái tháo đường kiểm soát kém có nguy cơ biến chứng cao hơn, vùng nhiễm trùng lan rộng hơn và kết quả huyết học bất thường hơn so với nhóm kiểm soát tốt [7]. Độ tuổi trung bình của nhóm kiểm soát tốt trong nghiên cứu là 60,9 tuổi và nhóm kiểm soát kém là 63,2 tuổi [7]. Tình trạng căng thẳng thể chất và tâm lý do nhiễm trùng kích hoạt hệ thống thần kinh giao cảm và trục nội tiết, làm tăng tiết đường huyết và khiến nhiễm trùng thêm khó kiểm soát [7].

Hiểu lầm thường gặp trong dinh dưỡng kháng viêm

Nhiều người bệnh lầm tưởng rằng chỉ cần kiêng đường tuyệt đối hoặc cắt bỏ hoàn toàn tinh bột là có thể dập tắt phản ứng viêm. Tuy nhiên, việc kiêng khem quá mức dễ dẫn đến biến chứng hạ đường huyết nguy hiểm [2]. Kiểm soát đường huyết hiệu quả đòi hỏi sự cân bằng, tránh để đường huyết dao động lớn giữa mức quá cao và quá thấp [2].

Một quan niệm sai lầm khác là dùng các loại thực phẩm bổ sung liều cao mà không chú ý đến chế độ ăn tổng thể. Khi nồng độ đường trong máu thường xuyên vượt ngưỡng 200 mg/dL, các tế bào miễn dịch đã bị tê liệt chức năng hô hấp tế bào [1]. Do đó, nền tảng cốt lõi luôn là duy trì mức đường huyết ổn định thông qua bữa ăn cân đối trước khi nghĩ đến các biện pháp bổ trợ khác.

Ai cần đặc biệt thận trọng?

Người cao tuổi mắc đái tháo đường cần được giám sát chặt chẽ vì thường có nhiều bệnh lý nền đi kèm, làm tăng nguy cơ tổn thương và biến chứng nặng khi nhiễm trùng xảy ra [2, 3].

Bệnh nhân chuẩn bị bước vào các ca phẫu thuật lớn cần được tầm soát kỹ chỉ số HbA1c, do tỷ lệ đái tháo đường chưa được phát hiện trong nhóm này khá cao (khoảng 11,3%) và tình trạng tăng đường huyết làm tăng rõ rệt nguy cơ nhiễm khuẩn hậu phẫu, chậm lành vết mổ, suy tạng [4].

Bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị ung thư bằng hóa chất cần kiểm soát đường huyết chặt chẽ để tránh nguy cơ giảm bạch cầu trung tính và gián đoạn liệu trình điều trị [2, 8]. Những người có biến chứng thần kinh ngoại biên và suy giảm tưới máu mạch máu ngoại vi cần chăm sóc bàn chân định kỳ để tránh nguy cơ loét và nhiễm trùng mô hạt sâu [2]. Bệnh nhân suy giảm chức năng thận cũng cần tham khảo ý kiến bác sĩ để điều chỉnh chế độ ăn và liều lượng thuốc phù hợp [2].

Áp dụng dinh dưỡng kiểm soát đường huyết và phục hồi miễn dịch

Để duy trì hoạt động hóa ứng động của bạch cầu trung tính, mục tiêu hàng đầu là ổn định đường huyết, hạn chế tối đa các đỉnh tăng đường huyết đột ngột sau ăn vượt quá 200 mg/dL [1]. Người bệnh nên thực hiện các điều chỉnh thực tế sau:

  • Phân bổ lượng carbohydrate hợp lý: Ưu tiên các nguồn tinh bột hấp thu chậm, giàu chất xơ hòa tan như yến mạch, gạo lứt, các loại đậu. Chất xơ giúp làm chậm quá trình hấp thu đường vào máu, hạn chế tình trạng tăng áp lực thẩm thấu nội mạch.
  • Kết hợp thực phẩm thông minh: Luôn ăn rau xanh và protein nạc trước khi ăn tinh bột trong mỗi bữa ăn. Trình tự này giúp làm chậm tốc độ làm rỗng dạ dày và làm phẳng đường cong đường huyết sau ăn.
  • Chia nhỏ khẩu phần: Tránh ăn quá no trong một bữa khiến đường huyết vọt lên cao; không bỏ bữa để phòng ngừa nguy cơ hạ đường huyết [2].
  • Phối hợp đa dạng vi chất: Xây dựng khẩu phần đa dạng rau củ, quả ít ngọt để cung cấp đầy đủ các vitamin và khoáng chất tự nhiên giúp chống oxy hóa, hỗ trợ hệ thống phòng thủ tế bào.

Bên cạnh dinh dưỡng, người bệnh cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm trùng chủ động theo khuyến cáo y khoa, bao gồm tiêm phòng đầy đủ vắc-xin cúm, phế cầu, SARS-CoV-2, viêm gan B, zona thần kinh và uốn ván - bạch hầu - ho gà (Tdap/Td) [2]. Đồng thời, cần kiểm tra bàn chân hằng ngày để phát hiện sớm các vết thương nhỏ [2]. Khi có dấu hiệu nhiễm trùng hoặc đường huyết dao động bất thường, người bệnh cần đi khám chuyên khoa và tuân thủ hướng dẫn điều trị của bác sĩ.