Vào những ngày thời tiết chuyển mùa, hiện tượng mù quang hóa và sương mù dày đặc kèm theo bụi mịn thường xuyên bao phủ nhiều đô thị lớn. Rất nhiều người có thói quen sử dụng kính áp tròng bắt đầu cảm nhận rõ rệt tình trạng mắt bị khô cay, cộm xốn, thậm chí đỏ ngầu sau một ngày di chuyển ngoài đường. Câu hỏi đặt ra là liệu việc đeo kính áp tròng trong điều kiện thời tiết mù sương, ô nhiễm có thực sự làm tăng nguy cơ tổn thương và viêm nhiễm giác mạc hay không.

Câu trả lời từ các bằng chứng nhãn khoa là có: đôi mắt vốn rất nhạy cảm với các chất gây ô nhiễm không khí [1]. Khi kết hợp cùng vật thể nhân tạo áp sát bề mặt nhãn cầu như kính áp tròng, nguy cơ xáo trộn màng phim nước mắt và tích tụ các vi hạt gây kích ứng biểu mô giác mạc sẽ gia tăng đáng kể [2], [3].

Mù sương, ô nhiễm không khí và áp lực lên bề mặt nhãn cầu

Mắt là một trong những cơ quan tiếp xúc trực tiếp nhiều nhất với môi trường khí quyển bên ngoài [2]. Bất kỳ sự biến động tiêu cực nào của chất lượng không khí đều có thể dẫn tới những phản ứng từ khó chịu nhẹ cho đến kích ứng mạn tính [1]. Mặc dù ô nhiễm hiện diện ở cả môi trường trong nhà lẫn ngoài trời, những ảnh hưởng tiêu cực của khói bụi lên mắt lại thường bị các chuyên gia khúc xạ bỏ qua trong quá trình thăm khám lâm sàng [1].

Hiệp hội Màng phim Nước mắt và Bề mặt Nhãn cầu (TFOS DEWS II) vào năm 2017 đã định nghĩa khô mắt là một bệnh lý đa yếu tố của bề mặt nhãn cầu, đặc trưng bởi sự mất cân bằng nội môi của màng phim nước mắt và đi kèm với các triệu chứng khó chịu tại mắt [2]. Đáng chú ý, các chuyên gia nhận định rằng việc tiếp xúc cơ học trực tiếp (chẳng hạn như đeo kính áp tròng) tác động rõ rệt đến sự phát triển của hội chứng khô mắt, và việc tiếp xúc với các chất ô nhiễm không khí cũng tạo ra những tác động tương tự [2]. Ô nhiễm không khí đã được xác nhận có mối liên hệ với viêm kết mạc dị ứng, đồng thời bề mặt nhãn cầu phải chịu nhiều thương tổn khi tiếp xúc với các hạt bụi mịn [2].

Cơ chế phá vỡ hàng rào bảo vệ mắt khi đeo kính áp tròng

Về mặt sinh lý, kính áp tròng khi đặt vào mắt sẽ nhân tạo chia tách màng phim nước mắt tự nhiên thành hai ngăn riêng biệt, thách thức tính toàn vẹn của cấu trúc này [3]. Tình trạng này thường xuyên dẫn đến sự khởi phát các dấu hiệu và triệu chứng khô mắt [3]. Việc đeo kính áp tròng có thể làm giảm mật độ tế bào hình đài (goblet cells), từ đó làm giảm quá trình sản xuất chất nhầy MUC5AC – một dấu hiệu điển hình của bệnh khô mắt [3]. Ngoài ra, kính áp tròng còn làm biến đổi lớp glycocalyx trên bề mặt mắt và làm thay đổi sự biểu hiện của các mucin liên kết màng tế bào như MUC1, MUC4 và MUC16 [3].

Khi kết hợp với môi trường không khí xấu, tác động tiêu cực lên mắt càng nhân lên. Trong các mô hình động vật thí nghiệm, việc nhỏ dung dịch chứa bụi mịn trực tiếp vào mắt đã dẫn tới tình trạng sụt giảm bài tiết nước mắt, gây tổn thương biểu mô giác mạc và kết mạc, làm giảm số lượng tế bào hình đài và biến đổi vi môi trường bề mặt nhãn cầu [2]. Không chỉ bụi mịn, các chất khí độc hại trong sương mù ô nhiễm như lưu huỳnh đioxit (SO2) cũng can thiệp sâu vào sinh lý mắt [4].

Một nghiên cứu phân tích nồng độ pH của nước mắt trên 100 đối tượng cho thấy độ pH trung bình là 7,52, trong đó mắt khô có độ pH cao hơn mắt bình thường [4]. Nghiên cứu này chứng minh ô nhiễm không khí ảnh hưởng trực tiếp đến độ pH của nước mắt, cụ thể là độ pH của dịch lỏng này bị giảm xuống (trở nên có tính axit hơn) khi lượng khí SO2 trong khí quyển gia tăng [4]. Cùng với đó, việc đeo kính áp tròng mềm sau 7 ngày thích nghi cũng được ghi nhận làm giảm độ pH của nước mắt [4]. Khi cả hai yếu tố cộng gộp, tính axit của màng phim nước mắt tăng lên kết hợp cùng sự suy giảm lớp chất nhầy bảo vệ khiến giác mạc rơi vào tình trạng dễ bị bào mòn và viêm nhiễm.

Những bằng chứng khoa học về phản ứng của người đeo kính

Nhiều công trình nghiên cứu trên người dùng kính áp tròng đã phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa các yếu tố môi trường, thói quen sinh hoạt và mức độ khó chịu ở mắt.

Một khảo sát được công bố năm 2020 trên 120 người có tật khúc xạ cận thị sử dụng kính áp tròng giác mạc đã đánh giá xu hướng lựa chọn của họ theo chất lượng không khí [5]. Kết quả chỉ ra rằng có tới 43,8% người tham gia lo ngại về tình trạng suy giảm tính thấm oxy của kính áp tròng và gia tăng các biến chứng do sự hấp phụ và tích tụ các vi hạt mù sương ô nhiễm trên bề mặt kính [5]. Trước tình hình ô nhiễm không khí từ mức trung bình đến nghiêm trọng, 13,4% người tham gia cho biết họ sẽ ngừng đeo kính áp tròng để chuyển sang dùng kính gọng, và 28,6% chia sẻ rằng họ sẽ giảm tần suất đeo kính tùy theo tình hình thực tế [5]. Dù khảo sát này chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm số khó chịu của mắt giữa các điều kiện chất lượng không khí khác nhau và kết luận cần thêm nghiên cứu sâu hơn, nó đã phản ánh rõ tâm lý cảnh giác của người dùng trước nguy cơ vi hạt bám dính vào kính [5].

Trước đó, một nghiên cứu tại Toronto (Canada) khảo sát trên 83 người đeo kính áp tròng ghi nhận triệu chứng phổ biến nhất là khô mắt, trong khi triệu chứng ít gặp nhất là đau nhức [6]. Đáng chú ý, các triệu chứng khó chịu tại mắt có xu hướng tăng lên rõ rệt vào buổi tối so với buổi sáng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rất cao (p < 0,0001) [6]. Hiện tượng nhìn mờ hoặc thị lực thay đổi thất thường cũng xuất hiện thường xuyên [6]. Tuy nhiên, phần lớn đối tượng cho biết các triệu chứng chưa đủ nặng để họ phải dừng công việc, sở thích hoặc tháo kính áp tròng ra ngay [6].

Nghiên cứu tại vùng Asir (Ả Rập Xê Út) công bố năm 2022 trên 201 người sử dụng kính áp tròng (độ tuổi trung bình 24,3 ± 12,8 tuổi) cho thấy hội chứng khô mắt liên quan đến kính áp tròng (CLADE) biểu hiện qua hàng loạt than phiền: cảm giác khô mắt, cộm dị vật, mỏi mắt, nhìn mờ và đau nhức vào cuối ngày [7]. Trong số những người tham gia, có tới 91% cảm thấy khô mắt trong 2 tuần trước thời điểm nghiên cứu, 88,1% gặp cảm giác nóng rát và 82,6% phàn nàn về tình trạng đỏ mắt [7]. Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng những triệu chứng này thường có xu hướng nặng dần lên theo thời gian trong ngày [7].

Mặt khác, các yếu tố môi trường vi khí hậu xung quanh mắt cũng đóng vai trò kích hoạt triệu chứng. Nghiên cứu năm 2021 đánh giá ảnh hưởng của khẩu trang đối với người đeo kính áp tròng ghi nhận 61,5% đối tượng thỉnh thoảng có các triệu chứng khô mắt [8]. Khi đeo khẩu trang, các triệu chứng này trở nên tồi tệ hơn ở 17,5% người tham gia [8]. Cảm giác khô mắt diễn ra nghiêm trọng hơn ở những người đeo kính áp tròng loại thay hàng tháng (p = 0,034), và nhu cầu tháo kính sau khi dùng khẩu trang xuất hiện nhiều hơn ở nữ giới (p = 0,026) [8]. Cơ chế được giải thích là do luồng khí thở ra có nhiệt độ khoảng 36-37 độ C thoát qua mép trên khẩu trang hướng thẳng vào bề mặt nhãn cầu, gây mất ổn định màng phim, tăng tốc độ bốc hơi nước mắt, tăng áp lực thẩm thấu và giảm đổi mới màng nước mắt [8].

Mối nguy từ việc tích tụ tạp chất và hóa chất ngâm rửa

Mối nguy hiểm lớn nhất đối với người đeo kính áp tròng trong điều kiện mù sương ô nhiễm là sự tích tụ vật lý của bụi bẩn kết hợp với độc tính hóa học từ dung dịch ngâm rửa [3].

Các kính áp tròng ngâm trong một số dung dịch rửa đa dụng (MPS) có thể gây ra hiện tượng bắt màu giác mạc do dung dịch (SICS), vốn được mô tả như một phản ứng ngộ độc hóa chất điển hình [3]. Các dung dịch MPS thường chứa chất hoạt động bề mặt (như Tetronic 1107), chất khử trùng diệt khuẩn (như polyhexamethylene biguanide) và hệ đệm borate [3].

Kính hiển vi điện tử trong nghiên cứu trên thỏ cho thấy mắt đeo kính áp tròng tiếp xúc với dung dịch MPS gốc borate bị mất hẳn các tế bào biểu mô bề mặt, trong khi mắt đối chứng chỉ bị tổn thương nhẹ màng bề mặt nhưng vẫn giữ nguyên vẹn các liên kết tế bào [3]. Khi quan sát bề mặt nhãn cầu của người bằng ánh sáng trắng độ phân giải cao sau khi đeo kính ngâm dung dịch MPS thông thường, các nhà khoa học phát hiện rõ các "đốm" mờ màu xám/trắng riêng biệt nằm rải rác trên bề mặt giác mạc trong suốt [3]. Kích thước của các đốm mờ này hoàn toàn tương thích với đường kính của các tế bào biểu mô bề mặt giác mạc người, đồng thời lượng mRNA của MUC1 và MUC16 trên bề mặt mắt cũng bị sụt giảm đáng kể [3].

Khi các vi hạt ô nhiễm ngoài môi trường lọt vào khe giữa kính áp tròng và biểu mô giác mạc, chúng sẽ bị giữ lại tại đây. Sự cọ xát cơ học liên tục từ mỗi lần chớp mắt, kết hợp với độc tính tồn dư từ chất tẩy rửa thấu kính và môi trường nước mắt bị axit hóa do khí SO2, tạo thành một vòng xoắn bệnh lý nguy hiểm [2], [4], [3]. Biểu mô giác mạc bị bong tróc, mất liên kết tế bào sẽ tạo điều kiện trực tiếp cho các tổn thương xước trợt tiến triển thành các vết loét giác mạc nghiêm trọng [2], [3].

Những hiểu lầm thường gặp khi đeo kính ngày sương mù

Nhiều người lầm tưởng rằng kính áp tròng đóng vai trò như một "tấm khiên" che chắn bề mặt con ngươi khỏi bụi bẩn trong không khí. Thực tế hoàn toàn ngược lại: kính áp tròng cản trở sự bôi trơn tự nhiên, ngăn cản cơ chế tự làm sạch của dòng nước mắt và có thể hấp phụ các vi hạt ô nhiễm lên bề mặt chất liệu kính [2], [5], [3].

Một hiểu lầm khác là triệu chứng cộm rát mắt chỉ là phản ứng tạm thời ngoài đường, về nhà nhỏ vài giọt nước mắt nhân tạo là khỏi. Nghiên cứu cho thấy tổn thương do bụi mịn và hóa chất làm suy giảm tế bào hình đài và phá hủy các phân tử chất nhầy MUC kéo dài, làm thay đổi vi môi trường mắt chứ không đơn thuần chỉ là cảm giác khô thoáng qua [2], [3].

Ngoài ra, nhiều người chủ quan nghĩ rằng dung dịch ngâm rửa càng có tính diệt khuẩn mạnh thì càng bảo vệ mắt tốt trong mùa ô nhiễm. Tuy nhiên, các chất sát khuẩn như polyhexamethylene biguanide hay chất đệm borate trong dung dịch làm sạch đa năng có thể gây độc cho biểu mô, dẫn tới hiện tượng bong tróc tế bào bề mặt mắt nếu không được kiểm soát đúng cách [3].

Những đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Không phải ai đeo kính áp tròng cũng có phản ứng giống nhau, nhưng một số nhóm người có nguy cơ tổn thương giác mạc cao hơn hẳn:

  • Người có tiền sử mắc các bệnh lý mắt hoặc tật khúc xạ: Nghiên cứu tại Ả Rập Xê Út chỉ ra 60,7% người dùng kính áp tròng khảo sát có bệnh về mắt từ trước, trong đó cận thị chiếm 77%, viễn thị chiếm 6,6% và 16,4% mắc các bệnh lý nhãn khoa khác [7]. Những người này vốn đã có nguy cơ cao bị khô mắt và viêm nhiễm khi tiếp xúc với môi trường xấu [7].
  • Người sử dụng kính áp tròng định kỳ dài ngày (loại thay hàng tháng): Nghiên cứu cho thấy triệu chứng khô mắt ở nhóm dùng kính tháng biểu hiện nặng nề hơn rõ rệt so với người dùng kính thay hàng ngày (p = 0,034) [8].
  • Phụ nữ đeo kính áp tròng kết hợp dùng khẩu trang: Tỷ lệ nữ giới cảm thấy cần phải tháo kính áp tròng ra do khó chịu khi kết hợp đeo khẩu trang cao hơn hẳn nam giới (p = 0,026) [8].
  • Người thường xuyên di chuyển ngoài trời trong điều kiện ô nhiễm khí SO2 cao hoặc sương mù dày đặc: Nồng độ SO2 cao làm giảm độ pH nước mắt, kết hợp sự thích nghi với kính áp tròng làm môi trường mắt thêm toan tính, dễ tổn thương [4].

Hướng dẫn chăm sóc mắt và áp dụng thực tế an toàn

Để bảo vệ thị lực trong những ngày chất lượng không khí ở mức cảnh báo xấu hoặc trời mù sương, người dùng kính áp tròng nên chủ động áp dụng các giải pháp dự phòng:

  • Linh hoạt chuyển đổi sang kính gọng: Học hỏi thói quen từ 13,4% người dùng sẵn sàng ngưng kính áp tròng để dùng kính gọng và 28,6% chủ động giảm thời gian sử dụng trong các đợt ô nhiễm không khí trung bình đến nghiêm trọng [5]. Kính gọng trong trường hợp này vừa khắc phục tật khúc xạ, vừa tạo một màng chắn cơ học giảm bớt luồng bụi tạt trực tiếp vào mắt.
  • Giảm thiểu thời gian đeo về cuối ngày: Các triệu chứng khó chịu, khô rát và nhìn mờ của mắt luôn có xu hướng tăng nặng đáng kể vào buổi chiều tối so với buổi sáng [7], [6]. Nếu bắt buộc phải đeo kính áp tròng đi làm, hãy tháo kính ngay khi về đến nhà thay vì đeo liên tục đến tận lúc ngủ.
  • Kiểm tra tính tương thích của dung dịch ngâm rửa: Thận trọng với các dung dịch đa năng chứa thành phần có thể gây độc cho biểu mô giác mạc (như borate, chất diện hoạt) gây đốm mờ giác mạc [3]. Nếu mắt thường xuyên đỏ rát sau khi đeo kính đã ngâm dung dịch, cần tham khảo ý kiến chuyên gia khúc xạ để đổi loại sản phẩm phù hợp.
  • Hạn chế luồng khí nóng phả ngược: Chỉnh gọng khẩu trang ôm sát sống mũi để ngăn dòng khí thở ấm (36-37 độ C) bốc lên làm bay hơi cấp tập màng phim nước mắt [8].

Tình trạng mù sương chứa bụi mịn ô nhiễm là mối đe dọa trực tiếp đến bề mặt nhãn cầu, đặc biệt đối với những người có thói quen đeo kính áp tròng. Sự cộng hưởng giữa việc chia tách màng phim nước mắt, suy giảm bài tiết dịch nhầy và tích tụ các hạt ô nhiễm có thể chuyển hóa sự khó chịu ban đầu thành các biến chứng loét giác mạc nguy hiểm. Lắng nghe đôi mắt, giảm thời lượng đeo kính trong những ngày không khí xấu và thăm khám nhãn khoa kịp thời chính là cách tốt nhất để bảo toàn thị lực lâu dài.