Những ngày thời tiết chuyển mùa hoặc xuất hiện hiện tượng sương mù quang hóa, bầu trời nhiều đô thị lớn thường chìm trong lớp mù trắng đục đặc quánh. Rất nhiều người khi di chuyển ngoài đường trở về nhà đều cảm thấy đôi mắt cay xè, cộm xốn như có cát bên trong, đỏ rực và chảy nước mắt liên tục. Trước tình trạng này, phản xạ quen thuộc của hầu hết người dân là tìm ngay lọ nước muối sinh lý hoặc dung dịch rửa mắt để nhỏ thật nhiều giọt với hy vọng "rửa trôi" toàn bộ bụi bẩn và các hạt bụi mịn đang bám trên bề mặt giác mạc.
Dung dịch rửa mắt thực sự có khả năng cuốn trôi một phần dị vật cơ học, các hạt bồ hóng và chất nhầy bám dính trên bề mặt nhãn cầu, từ đó làm dịu nhanh cảm giác cộm ngứa [1]. Tuy nhiên, nước muối hay dung dịch nhỏ mắt không thể vô hiệu hóa toàn bộ tác hại sinh học sâu xa của bụi mịn và các chất khí độc hại, vốn đã nhanh chóng kích hoạt quá trình viêm và stress oxy hóa trên tế bào biểu mô mắt [2], [3]. Để bảo vệ thị lực trong những ngày chất lượng không khí ở mức báo động, chúng ta cần hiểu đúng cơ chế tác động của ô nhiễm và áp dụng quy trình chăm sóc khoa học.
Bụi mịn và sương mù quang hóa: Mối đe dọa thầm lặng đối với đôi mắt
Trong các đợt sương mù quang hóa, mắt là một trong những cơ quan phơi nhiễm trực tiếp và dễ bị tổn thương nhất trước các tác nhân độc hại từ môi trường bên ngoài [4]. Bề mặt nhãn cầu của con người chỉ được che phủ và ngăn cách với các chất ô nhiễm trong không khí bởi một màng nước mắt rất mỏng [5]. Do đó, cấu trúc này thậm chí còn phơi nhiễm nhiều hơn trước không khí ô nhiễm so với niêm mạc đường hô hấp [5].
Các nguồn phát thải từ giao thông và hoạt động công nghiệp liên tục đưa vào khí quyển các loại hạt vật chất lơ lửng, cùng nhiều loại khí độc hại như ôzôn (O3), nitơ đioxit (NO2), lưu huỳnh đioxit (SO2), cacbon monoxit (CO) và chì [2], [6]. Khi mật độ phương tiện gia tăng đột biến, lượng phát thải từ xe cơ giới trở thành nguồn ô nhiễm chính tại các vùng đô thị lớn [6]. Các hạt bụi lơ lửng này không đơn thuần chỉ là đất cát thông thường, mà chúng chứa nhiều hợp chất hóa học phức tạp, kim loại và sản phẩm đốt cháy dở dang có khả năng bám dính rất chắc vào màng phim nước mắt [1], [6].
Nhiều người thường chủ quan cho rằng nếu không cảm thấy đau rát dữ dội thì mắt vẫn hoàn toàn khỏe mạnh. Tuy nhiên, các cơ chế cân bằng nội môi của bề mặt nhãn cầu có khả năng tự thích nghi với những thay đổi mạn tính của môi trường, khiến người phơi nhiễm không phải lúc nào cũng biểu hiện rõ triệu chứng [2]. Dù triệu chứng không rầm rộ, sự tổn thương âm thầm ở mức độ tế bào vẫn liên tục diễn ra khi mắt tiếp xúc lâu dài với nồng độ ô nhiễm cao [6], [5].
Nhỏ nước muối có thực sự "quét sạch" được bụi mịn bám vào giác mạc?
Để trả lời cho câu hỏi này, các nhà khoa học đã tiến hành ghi nhận hiệu quả thực tế của việc rửa mắt sau khi di chuyển ngoài đường phố ô nhiễm [1]. Việc sử dụng dung dịch rửa mắt chuyên dụng đã được chứng minh có thể loại bỏ các hạt lạ khỏi bề mặt nhãn cầu và giúp giải phóng các hạt dạng bồ hóng cùng chất nhầy mắt ra bên ngoài [1]. Sau khi rửa sạch, người sử dụng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt đối với cảm giác cộm xốn, ngứa ngáy và khô rát [1].
Mặc dù vậy, tác dụng của việc rửa mắt bằng nước muối hay dung dịch chuyên biệt chỉ dừng lại ở mặt vật lý cơ học trên bề mặt nhãn cầu [1]. Bụi mịn, đặc biệt là các hạt bụi siêu vi PM2.5, cùng các chất ô nhiễm dạng khí độc hại có kích thước vô cùng nhỏ và khả năng tương tác hóa học nhanh chóng với lớp biểu mô [1], [3]. Khi bụi tiếp xúc với mắt, các chuỗi phản ứng sinh hóa bất lợi đã kịp thời được kích hoạt ngay trước khi chúng ta kịp về nhà để nhỏ mắt [2], [3].
Ngoài ra, việc lạm dụng nhỏ nước muối quá mức hoặc dùng loại nước muối không đảm bảo chất lượng còn tiềm ẩn nguy cơ rửa trôi luôn cả các thành phần bảo vệ thiết yếu trong màng nước mắt tự nhiên [5]. Màng phim này đóng vai trò như tấm khiên sinh học duy trì độ ẩm và bảo vệ biểu mô giác mạc, kết mạc [5]. Do đó, nhỏ nước muối là một biện pháp hỗ trợ vệ sinh tức thì nhưng tuyệt đối không phải là "liều thuốc vạn năng" có thể trung hòa hoàn toàn tác hại của ô nhiễm không khí [1], [3].
Cơ chế tác động: Bụi và ô nhiễm hủy hoại bề mặt nhãn cầu như thế nào?
Những tổn hại mà bụi mịn và môi trường ô nhiễm gây ra cho mắt diễn ra qua nhiều tầng cơ chế phức tạp, bao gồm độc tính tế bào, stress oxy hóa và kích hoạt phản ứng viêm [2]. Bằng chứng từ các nghiên cứu tiền lâm sàng trên mô hình tế bào giác mạc và kết mạc cho thấy, việc tiếp xúc với các hạt vật chất và chất ô nhiễm không khí tương tự sẽ dẫn đến hiện tượng chết tế bào theo chương trình (apoptosis) [3]. Quá trình phá hủy tế bào này xảy ra chủ yếu thông qua các con đường gây viêm, stress oxy hóa cũng như các phản ứng dị ứng và miễn dịch [3].
Khi các tế bào bề mặt giác mạc và kết mạc bị tổn thương, cấu trúc ổn định của màng nước mắt sẽ bị phá vỡ hoàn toàn [3], [6]. Trên các mô hình động vật thí nghiệm, việc phơi nhiễm với bụi mịn dẫn đến kiểu hình tổn thương tương tự như bệnh khô mắt, biểu hiện qua tình trạng giảm thể tích nước mắt tiết ra và xuất hiện các vùng tổn thương thực thể trên bề mặt nhãn cầu [3]. Hiện tượng này cũng trùng khớp với các báo cáo lâm sàng khi người bệnh liên tục than phiền về các triệu chứng ngứa, rát bỏng, cộm xốn và được chẩn đoán mắc viêm kết mạc, dị ứng mắt hoặc hội chứng khô mắt [3].
Bên cạnh bụi hạt, các chất ô nhiễm dạng khí như NO2 cũng đóng vai trò nguy hại trực tiếp. Một báo cáo tổng quan hệ thống năm 2023 đã xác nhận rằng bệnh khô mắt có mối liên quan mật thiết với tình trạng ô nhiễm không khí do NO2 và ô nhiễm đất do crôm, trong khi không tìm thấy mối liên quan với ô nhiễm do CO hay PM10 [7]. Các yếu tố môi trường khác như nhiệt độ cao cũng làm rối loạn cân bằng nội môi bề mặt nhãn cầu, làm khởi phát các bệnh lý bề mặt mắt [7]. Khi kết hợp cùng nhau trong điều kiện sương mù quang hóa, chúng tạo thành một hỗn hợp gây độc hại diện rộng cho mô mắt [2], [7].
Bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng trên thế giới
Hiệu quả của việc làm sạch mắt cũng như mức độ tàn phá của ô nhiễm không khí đã được làm sáng tỏ qua nhiều công trình nghiên cứu trên các nhóm đối tượng thực tế:
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tại Jakarta (Indonesia) được thiết kế theo phương pháp mù đơn (bệnh nhân và người đánh giá được làm mù), hai nhánh song song, không ngẫu nhiên nhằm kiểm tra tác dụng của dung dịch rửa mắt đối với các tổn thương do ô nhiễm không khí [1]. Các nhà khoa học đã tuyển chọn 15 người di chuyển bằng ô tô (30 mắt) và 15 người di chuyển bằng xe máy (30 mắt) từ những người tình nguyện khỏe mạnh [1]. Sau hành trình di chuyển đi làm, mắt của các đối tượng được rửa bằng dung dịch rửa mắt thương mại [1]. Tình trạng được đánh giá dựa trên thang điểm 8 triệu chứng bề mặt nhãn cầu và 4 triệu chứng viêm mũi chủ quan [1]. Kết quả cho thấy trước khi rửa, 5 trên 12 điểm triệu chứng chủ quan ở nhóm đi xe máy cao hơn hẳn nhóm đi ô tô (p < 0.05) [1]. Sau khi rửa mắt, nhóm đi xe máy ghi nhận sự cải thiện rõ rệt ở 5 triệu chứng gồm: ngứa mắt, cảm giác dị vật (cộm xốn), ghèn mắt, khô mắt và mỏi mắt (p < 0.05) [1]. Đáng chú ý, trong dung dịch thu gom sau khi rửa của tất cả đối tượng đều phát hiện thấy các hạt dạng bồ hóng và chất nhầy mắt, chứng minh dung dịch rửa có hiệu quả loại bỏ dị vật cơ học [1].
Một nghiên cứu bệnh chứng đa trung tâm tại thành phố đô thị Delhi (Ấn Độ) công bố năm 2007 đã tiến hành khảo sát trên 520 đối tượng tình nguyện để đánh giá tác động của môi trường ô nhiễm nặng do khí thải giao thông (chứa CO, NO, SO2, bụi lơ lửng, chì) lên bề mặt nhãn cầu [6]. Tất cả người tham gia đều được khám mắt chi tiết dưới đèn khe, đo thị lực, đo thời gian vỡ màng phim nước mắt (TBUT) và kiểm tra lượng nước mắt bằng nghiệm pháp Schirmer [6]. Kết quả cho thấy có tới 78% đối tượng thuộc nhóm phơi nhiễm ô nhiễm gặp các triệu chứng như đỏ mắt, chảy nước mắt, kích ứng, mỏi mắt hoặc sợ ánh sáng, trong khi tỷ lệ này ở nhóm chứng chỉ là 45% [6]. Nghiệm pháp Schirmer ở nhóm phơi nhiễm sụt giảm nghiêm trọng xuống còn 22,75 ± 8,91 mm so với mức 30,30 ± 7,92 mm ở nhóm đối chứng (p < 0.001) [6]. Đồng thời, thời gian vỡ màng phim nước mắt trung bình ở nhóm ô nhiễm cũng thấp hơn đáng kể (p < 0.05) với mức 11,17 ± 2,92 giây so với 12,13 ± 3,24 giây ở nhóm chứng [6]. Nghiên cứu kết luận rằng những người thường xuyên di chuyển tại khu vực ô nhiễm cao có nguy cơ rất lớn mắc các rối loạn bề mặt nhãn cầu dưới lâm sàng [6].
Một tổng quan hệ thống quy mô lớn công bố năm 2024 tuân thủ theo hướng dẫn PRISMA đã tổng hợp 102 nghiên cứu từ các cơ sở dữ liệu PubMed và EMBASE trong giai đoạn 2009 đến 2024 [3]. Báo cáo này đã củng cố mối tương quan chặt chẽ giữa việc phơi nhiễm bụi mịn với sự suy giảm chức năng bề mặt nhãn cầu và tình trạng khởi phát các đợt viêm kết mạc hay khô mắt mạn tính [3].
Những nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng trong ngày ô nhiễm
Không phải tất cả mọi người đều có mức độ phản ứng giống nhau khi đối diện với sương mù ô nhiễm. Các nghiên cứu chỉ ra rằng một số nhóm đối tượng có nguy cơ tổn thương giác mạc nghiêm trọng hơn bình thường:
Trước hết là nhóm bệnh nhân mắc hội chứng Sjogren hoặc có tiền sử khô mắt sẵn có [8]. Một nghiên cứu thực hiện năm 2018 tại vùng đô thị Buenos Aires đã khảo sát bề mặt nhãn cầu của 30 bệnh nhân Sjogren so với 30 người tình nguyện khỏe mạnh làm nhóm đối chứng, sử dụng chỉ số NO2 làm thước đo phơi nhiễm ô nhiễm không khí [8]. Các đối tượng được đánh giá qua bảng chỉ số bệnh bề mặt nhãn cầu (OSDI), kiểm tra đèn khe, đo thời gian vỡ phim nước mắt (TBUT), nghiệm pháp Schirmer 1, nhuộm sống giác mạc và kết mạc bằng fluorescein và lissamine green, nồng độ lysozyme và tế bào học ấn [8]. Kết quả ghi nhận ở mức phơi nhiễm ô nhiễm cao, mức độ tổn thương bề mặt nhãn cầu và kích ứng mắt ở bệnh nhân Sjogren diễn ra nghiêm trọng hơn rất nhiều so với người bình thường [8]. Cả triệu chứng chủ quan lẫn các chỉ dấu khách quan như thời gian vỡ màng phim nước mắt hay tổn thương tế bào biểu mô đều xấu đi rõ rệt [8].
Nhóm đối tượng thứ hai là những người có cơ địa dị ứng hoặc có xu hướng cơ địa atopy [2]. Những cá nhân này vốn đã ở trong trạng thái tăng cường đáp ứng miễn dịch niêm mạc từ trước, do đó khả năng dung nạp của họ đối với các kích thích kháng nguyên từ môi trường ô nhiễm sẽ kém hơn người bình thường rất nhiều [2]. Khi tiếp xúc với khói bụi, họ dễ bùng phát các cơn viêm kết mạc dị ứng dữ dội kèm theo ngứa rát khó kiểm soát [2], [3].
Nhóm thứ ba là những người thường xuyên đeo kính áp tròng [4]. Môi trường ô nhiễm không khí gây ra những tác động bất lợi rõ rệt và tạo ra tình trạng đặc biệt nghiêm trọng cho người sử dụng kính tiếp xúc [4]. Bụi mịn và hóa chất có thể tích tụ hoặc kẹt lại giữa kính áp tròng và bề mặt giác mạc, làm tăng ma sát, cản trở sự trao đổi oxy và nhân đôi nguy cơ gây trầy xước, viêm loét giác mạc.
Những hiểu lầm phổ biến khi vệ sinh mắt trong mùa sương mù ô nhiễm
Một sai lầm rất phổ biến là nhiều người tự pha nước muối tại nhà bằng muối ăn để rửa mắt vì nghĩ rằng nồng độ càng đậm thì khả năng sát khuẩn càng cao. Việc làm này cực kỳ nguy hiểm bởi nước tự pha không đảm bảo được độ vô trùng, không cân bằng được độ pH và áp suất thẩm thấu. Dung dịch tự pha quá mặn sẽ hút nước từ các tế bào giác mạc, gây tổn thương biểu mô và tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập sâu hơn.
Hiểu lầm thứ hai là thói quen nhỏ nước muối sinh lý liên tục nhiều lần trong ngày, mỗi khi cảm thấy hơi xốn mắt. Mặc dù nước muối sinh lý 0,9% đẳng trương an toàn, nhưng việc nhỏ liên tục với tần suất quá dày có thể vô tình rửa trôi các enzym kháng khuẩn tự nhiên (như lysozyme), các chất nhầy mucin và lớp lipid thiết yếu của màng nước mắt [8], [5]. Mất đi lớp bảo vệ tự nhiên này, bề mặt giác mạc càng trở nên trơ trọi và dễ bị kích ứng bởi các loại khí độc hại [5].
Hiểu lầm thứ ba là suy nghĩ "dụi mắt cho đỡ ngứa và bật bụi ra". Khi có cảm giác cộm xốn do bụi mịn và các hạt bồ hóng bám dính, phản xạ tự nhiên của nhiều người là dùng tay chà xát mạnh vào mi mắt [1]. Động tác dụi mắt vô tình biến các hạt bụi cứng thành những vật thể chà xát trực tiếp lên bề mặt biểu mô giác mạc, gây ra các vết trợt xước vi mô, tạo đường vào cho vi khuẩn và làm trầm trọng thêm phản ứng viêm [3].
Ngoài ra, một số người lầm tưởng rằng mắt không có triệu chứng đỏ hay cộm thì không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí có thể gây ra những rối loạn bề mặt nhãn cầu ở mức độ dưới lâm sàng mà bệnh nhân không tự cảm nhận được cho đến khi bệnh đã tiến triển nặng [6].
Hướng dẫn vệ sinh mắt đúng cách và bảo vệ giác mạc thực tế
Để bảo vệ đôi mắt tối ưu trong những ngày xuất hiện sương mù quang hóa và ô nhiễm không khí nghiêm trọng, việc vệ sinh mắt cần được thực hiện có chừng mực và kết hợp đồng bộ với các biện pháp che chắn:
Khi di chuyển ngoài trời, đặc biệt là người tham gia giao thông bằng xe máy - nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hạt bụi lơ lửng [1], [6] - cần trang bị kính chắn gió kín hoặc đeo kính bảo hộ có viền che chắn để giảm thiểu tối đa diện tích mắt tiếp xúc trực tiếp với luồng khí thải [2], [6].
Sau khi hoàn thành lộ trình di chuyển ngoài đường về nhà hoặc nơi làm việc, bạn có thể thực hiện vệ sinh mắt bằng dung dịch rửa mắt chuyên dụng hoặc nước muối sinh lý vô trùng đơn liều/đa liều đạt tiêu chuẩn y tế [1]. Chỉ nên nhỏ từ 1 đến 2 giọt mỗi bên để giúp cuốn trôi các dị vật dạng hạt, bụi bồ hóng và chất dịch nhầy dư thừa tích tụ trong khóe mắt [1]. Tránh để đầu lọ thuốc chạm vào lông mi hoặc bề mặt mắt nhằm ngăn ngừa nguy cơ nhiễm khuẩn ngược dòng. Sau khi nhỏ, hãy nhấp nháy mắt nhẹ nhàng và dùng khăn giấy sạch thấm phần dung dịch thừa chảy ra khóe mắt, tuyệt đối không chà xát hay day dụi [1], [3].
Tần suất vệ sinh mắt chỉ nên duy trì khoảng 2 đến 3 lần mỗi ngày sau những thời điểm phơi nhiễm trực tiếp với khói bụi ngoài đường. Đối với những người có triệu chứng khô mắt, việc sử dụng các loại nước mắt nhân tạo có độ bôi trơn phù hợp sẽ giúp bổ sung thể tích dịch lỏng bị thiếu hụt và phục hồi tính ổn định của màng nước mắt tốt hơn là chỉ dùng nước muối sinh lý đơn thuần [3], [6]. Người đeo kính áp tròng nên hạn chế dùng kính trong những ngày không khí ô nhiễm nặng, hoặc phải vệ sinh khử trùng kính thật kỹ lưỡng [4].
Nếu sau khi đã rửa mắt mà các triệu chứng như đỏ mắt, đau rát dữ dội, cộm xốn kéo dài, sợ ánh sáng hoặc suy giảm thị lực vẫn không thuyên giảm [6], bạn không nên tự ý mua các loại thuốc nhỏ mắt chứa kháng sinh hay corticoid mà cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa mắt để được bác sĩ thăm khám và chẩn đoán kịp thời.
Nhỏ mắt bằng dung dịch rửa chuyên dụng hay nước muối sinh lý là giải pháp hỗ trợ tức thời rất hữu ích để loại bỏ các hạt bụi thô và làm dịu cơn kích ứng bề mặt mắt sau khi đi ngoài đường [1]. Dẫu vậy, phương pháp cơ học này không thể thay thế cho hàng rào phòng ngừa toàn diện trước các độc tính sinh học sâu xa của bụi mịn [3]. Hãy chủ động bảo vệ đôi mắt bằng kính chắn bụi, giữ vệ sinh khoa học và tham khảo ý kiến chuyên gia nhãn khoa khi mắt có dấu hiệu bất thường kéo dài để bảo vệ trọn vẹn thị lực.




