Nhiều thai phụ băn khoăn liệu uống thêm vi chất, đặc biệt là kẽm, có giúp phòng tránh các biến chứng nguy hiểm như viêm màng ối hay nhiễm trùng chu sinh hay không. Thực tế cho thấy tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng vi lượng thường khiến các bà mẹ lo lắng về sức đề kháng của bản thân lẫn thai nhi.

Hiện tại, các bằng chứng khoa học không cho thấy việc bổ sung kẽm giúp ngăn ngừa nhiễm trùng ối [1]. Dữ liệu nghiên cứu chỉ ghi nhận kẽm hỗ trợ cải thiện miễn dịch sơ sinh và giảm một số bệnh nhiễm trùng ở trẻ nhỏ sau sinh, chứ không tác động rõ rệt lên nhiễm khuẩn buồng ối của mẹ [1, 2].

Thiếu kẽm và câu hỏi về nhiễm khuẩn sản khoa

Kẽm là khoáng chất giữ vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch và quá trình phân chia tế bào. Khi người mẹ thiếu kẽm trong thai kỳ, nguy cơ gặp phải các kết cục thai kỳ bất lợi thường gia tăng [1, 2]. Tình trạng thiếu kẽm mức độ nhẹ đến trung bình khá phổ biến tại các quốc gia đang phát triển [2].

Chính vì vậy, một số giả thuyết cho rằng bổ sung kẽm có thể giúp tăng sức đề kháng của màng ối, hỗ trợ chuyển dạ và giảm các biến chứng nhiễm trùng chu sinh [1]. Tuy nhiên, các quan sát lâm sàng về mối liên hệ giữa thiếu hụt kẽm và kết cục bất lợi ở thai nhi thường mang lại kết quả mâu thuẫn [2]. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc y học hiện nay vẫn thiếu một chỉ số sinh học chuẩn xác và tin cậy để đánh giá mức độ thiếu kẽm thực sự ở phụ nữ có thai [2].

Khoa học nói gì về nhiễm trùng ối và biến chứng chuyển dạ

Một tổng quan năm 2000 từ hệ thống Cochrane đã phân tích dữ liệu từ 7 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung kẽm đối với tỷ lệ tử vong và mắc bệnh ở mẹ và thai nhi [1]. Kết quả cho thấy nhóm thai phụ uống kẽm chỉ có khả năng giảm nhẹ tỷ lệ phải khởi phát chuyển dạ, mổ lấy thai và sinh non [1]. Đáng chú ý, các tác giả không ghi nhận sự khác biệt nào khác giữa nhóm dùng kẽm và nhóm dùng giả dược hoặc không dùng kẽm [1]. Nghiên cứu kết luận hiện chưa có đủ bằng chứng khoa học để đánh giá đầy đủ tác động của kẽm đối với thai kỳ [1].

Tại hội thảo khoa học diễn ra ở Wageningen, Hà Lan vào tháng 6 năm 2001, các nhà khoa học đã thảo luận về 8 thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng tại các nước kém phát triển [3]. Báo cáo công bố năm 2003 cho thấy bằng chứng về ảnh hưởng của kẽm đối với các biến chứng chuyển dạ và sinh nở, tuổi thai khi sinh, sức khỏe người mẹ và sự phát triển thần kinh của thai nhi vẫn còn nhiều mâu thuẫn [3]. Dữ liệu hiện có cũng không ủng hộ giả thuyết cho rằng kẽm thúc đẩy sự phát triển của thai nhi trong tử cung [3].

Các nghiên cứu tổng quan tiếp theo công bố năm 2006 cũng khẳng định các thử nghiệm bổ sung kẽm không chứng minh được lợi ích nhất quán đối với sự phát triển của thai nhi, thời gian mang thai và tỷ lệ sống sót sớm của trẻ sơ sinh [2]. Do đó, việc dùng kẽm đại trà để cải thiện kết cục thai kỳ hay ngăn ngừa nhiễm trùng ối chưa được dữ liệu y khoa ủng hộ [2].

Tác động thực sự của kẽm: Miễn dịch của trẻ sau sinh

Dù không chứng minh được tác dụng ngăn nhiễm trùng ối, bổ sung kẽm trước sinh lại mang lại lợi ích rõ rệt đối với hệ miễn dịch của trẻ sau khi chào đời [1, 2]. Các thử nghiệm cho thấy việc mẹ uống kẽm giúp giảm tình trạng ốm đau và các bệnh truyền nhiễm ở giai đoạn nhũ nhi [1, 2].

Tại Peru, một thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi đối chứng thực hiện từ năm 1995 đến 1997 tại khu ổ chuột ven đô Lima đã kiểm chứng điều này [4]. Nghiên cứu theo dõi 421 trẻ có mẹ được phân ngẫu nhiên dùng 15 mg kẽm kết hợp 60 mg sắt và 250 microgam axit folic mỗi ngày, so sánh với nhóm chứng chỉ dùng 60 mg sắt và 250 microgam axit folic, bắt đầu từ tuần thai 10 đến 24 cho đến 1 tháng sau sinh [4]. Kết quả theo dõi từ 6 đến 12 tháng tuổi cho thấy tỷ lệ phần trăm số ngày bị tiêu chảy trung bình ở trẻ có mẹ bổ sung kẽm là 5,8%, thấp hơn mức 7,7% ở nhóm chứng [4]. Mẹ uống kẽm giúp giảm nguy cơ trẻ mắc các đợt tiêu chảy cấp kéo dài trên 7 ngày với tỷ số chênh OR là 0,66 và giảm nguy cơ đi ngoài phân nhầy với OR là 0,65 [4]. Tuy nhiên, can thiệp này không làm giảm các bệnh về đường hô hấp, sốt hay bệnh ngoài da ở trẻ [4].

Tại Bangladesh, một thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi có đối chứng giả dược đã tiến hành trên các bà mẹ mang thai từ tuần 12 đến 16 cho đến lúc sinh, với liều 30 mg kẽm nguyên tố mỗi ngày [5]. Nghiên cứu theo dõi 199 trẻ nhóm kẽm và 221 trẻ nhóm giả dược trong 6 tháng đầu đời [5]. Khi được 6 tháng tuổi, những trẻ nhẹ cân có mẹ uống kẽm đã giảm đáng kể nguy cơ mắc tiêu chảy cấp với tỷ số rủi ro RR là 0,84, giảm lỵ với RR là 0,36 và giảm bệnh chốc lở da với RR là 0,53 [5]. Hiệu quả bảo vệ này chỉ xuất hiện ở nhóm trẻ sinh ra nhẹ cân, không ghi nhận ở trẻ có cân nặng sơ sinh bình thường [5]. Đồng thời, việc bổ sung kẽm cho mẹ không giúp cải thiện cân nặng thai nhi hay nồng độ kẽm huyết thanh ở trẻ [5].

Ngoài ra, một số dữ liệu sơ bộ cho thấy kẽm có thể giúp phòng ngừa dị tật bẩm sinh như sứt môi và hở hàm ếch [2].

Những giới hạn và cảnh báo cần lưu ý

Mặc dù có lợi ích đối với miễn dịch của trẻ, can thiệp bằng kẽm đơn độc trong thai kỳ cần hết sức cẩn trọng vì những tác động chưa rõ ràng lên hệ thần kinh [6]. Một nghiên cứu theo dõi năm 2002 tại Bangladesh trên nhóm 559 phụ nữ mang thai dùng 30 mg kẽm mỗi ngày hoặc giả dược cellulose từ tháng thứ 4 thai kỳ đã đưa ra cảnh báo đáng chú ý [6].

Khi đánh giá lại 168 trẻ ngẫu nhiên lúc 13 tháng tuổi bằng thang đo Bayley-II và thang Wolke sửa đổi, các nhà nghiên cứu phát hiện trẻ ở nhóm mẹ dùng giả dược lại đạt điểm số phát triển tâm thần cao hơn (hệ số hồi quy 3,3; khoảng tin cậy 95%: 0,2 - 6,5) và điểm phát triển vận động tâm thần cao hơn (5,1; khoảng tin cậy 95%: 0,2 - 9,9) so với nhóm có mẹ bổ sung kẽm [6]. Bổ sung kẽm không mang lại lợi ích về hành vi hay sự tăng trưởng thể chất của trẻ [6]. Các chuyên gia khuyến cáo việc bổ sung kẽm đơn độc cho thai phụ nghèo tại đây không mang lại lợi ích phát triển tâm thần cho con và cần phải cân nhắc kỹ lưỡng [6].

Bên cạnh đó, việc bổ sung kẽm trực tiếp cho trẻ nhỏ sau sinh cũng cho thấy những kết quả phức tạp. Một thử nghiệm tại Tanzania trên 2.400 trẻ 6 tuần tuổi cho uống kẽm hàng ngày trong 18 tháng ghi nhận kẽm giúp giảm tiêu chảy (RR = 0,88), giảm lỵ (RR = 0,84) và nhiễm trùng hô hấp trên cấp tính (RR = 0,92) theo chẩn đoán của bác sĩ [7]. Tuy nhiên, dữ liệu lại ghi nhận xu hướng tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở nhóm trẻ dùng kẽm so với nhóm không dùng (HR = 1,80; khoảng tin cậy 95%: 0,98 - 3,31; p = 0,06) [7]. Ngược lại, một thử nghiệm khác trên 1.154 trẻ sinh đủ tháng nhưng nhẹ cân so với tuổi thai được bổ sung 5 mg kẽm dạng siro mỗi ngày từ 30 đến 284 ngày tuổi lại giúp giảm mạnh tỷ lệ tử vong do bệnh nhiễm trùng với tỷ số tỷ lệ là 0,32 [8]. Sự khác biệt này cho thấy phản ứng vi chất phụ thuộc chặt chẽ vào nhóm đối tượng và thể trạng của từng trẻ.

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng vi chất

Nhiều người lầm tưởng rằng kẽm là khoáng chất tăng đề kháng thì dùng càng nhiều trong thai kỳ sẽ càng giúp mẹ tránh được mọi bệnh viêm nhiễm sản khoa, kể cả nhiễm trùng ối. Khoa học đã khẳng định dữ liệu hiện tại không chứng minh được kẽm có tác dụng này [1].

Một ngộ nhận khác là uống kẽm liều cao sẽ giúp con sinh ra to hơn, nặng cân hơn. Thực tế các thử nghiệm lâm sàng đối chứng đều thất bại trong việc chứng minh kẽm thúc đẩy sự phát triển trong buồng tử cung hoặc cải thiện cân nặng sơ sinh [1, 2, 8].

Nhiều mẹ bầu cũng tự ý mua kẽm liều cao về uống đơn độc. Việc này tiềm ẩn nguy cơ gây mất cân bằng hấp thu các vi chất khác và chưa chắc đem lại kết quả tối ưu cho sự phát triển của thai nhi [6].

Ai nên thận trọng khi bổ sung khoáng chất?

Các kết luận khoa học đến nay đều không ủng hộ việc bổ sung kẽm thường quy cho toàn bộ phụ nữ mang thai [2]. Các tổ chức nghiên cứu nhấn mạnh cần thêm các thử nghiệm quy mô lớn trước khi đưa can thiệp kẽm vào áp dụng đại trà cho thai phụ [1, 2].

Phụ nữ mang thai không nên tự ý dùng các viên uống kẽm đơn lẻ liều cao mà chưa qua thăm khám. Những trường hợp có bệnh lý nền, rối loạn hấp thu hoặc đang sử dụng các loại thuốc điều trị đặc hiệu bắt buộc phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa sản. Bác sĩ sẽ cân nhắc dựa trên thể trạng và nguy cơ thiếu hụt vi chất để đưa ra chỉ định an toàn nhất cho cả mẹ và con.

Áp dụng thực tế để đảm bảo vi chất an toàn

Thay vì tìm kiếm các viên uống kẽm liều cao để phòng bệnh lý sản khoa, thai phụ nên tập trung duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng và lành mạnh. Các thực phẩm tự nhiên giàu kẽm bao gồm thịt đỏ, thịt gia cầm, hải sản có vỏ nấu chín kỹ, trứng, các loại đậu và hạt ngũ cốc.

Khi sử dụng các chế phẩm bổ sung vi chất trước sinh, thai phụ cần chú ý các liều lượng từng được áp dụng an toàn trong các thử nghiệm khoa học, ví dụ như liều 15 mg kẽm kết hợp cùng sắt và axit folic [4]. Không nên tự ý tăng liều lên mức 30 mg mỗi ngày nếu không có theo dõi sát sao từ chuyên gia y tế [3, 8].

Để phòng ngừa hiệu quả các viêm nhiễm đường sinh dục và nhiễm trùng ối, thai phụ cần tuân thủ lịch khám thai định kỳ, thực hiện vệ sinh vùng kín đúng cách và thông báo ngay cho bác sĩ khi có dấu hiệu rỉ ối, ra dịch âm đạo bất thường hoặc sốt.

Bổ sung kẽm trong thai kỳ không phải là biện pháp điều trị hay phòng ngừa nhiễm trùng ối. Mặc dù vi chất này có những lợi ích sơ bộ đối với hệ miễn dịch sau sinh của trẻ nhỏ, việc sử dụng cần được cá nhân hóa và tuân thủ chặt chẽ hướng dẫn y khoa.