Nhiều thai phụ băn khoăn về việc bổ sung vi chất sao cho đúng liều lượng mà không gây hại cho em bé. Bên cạnh sắt và axit folic, kẽm là khoáng chất thường xuyên được nhắc đến nhưng lại ít khi được hiểu cặn kẽ về nhu cầu thực tế qua từng giai đoạn thai kỳ.
Theo các tổng quan y khoa quốc tế, phụ nữ mang thai cần chú ý duy trì đủ lượng kẽm để giảm thiểu rủi ro sinh non và các biến chứng chu sinh [1], [2]. Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học hiện tại không khuyến cáo việc tự ý bổ sung kẽm liều cao đại trà mà cần căn cứ vào thể trạng dinh dưỡng và chỉ định chuyên môn [3], [4].
Kẽm đóng vai trò thế nào với thai phụ?
Kẽm là một nguyên tố vi lượng thiết yếu hiện diện trong mọi mô và dịch cơ thể, tham gia trực tiếp vào hoạt động của hơn 300 enzyme kim loại [2]. Khoáng chất này điều hòa quá trình truyền tín hiệu tế bào, phân chia tế bào, biểu hiện gene và tổng hợp protein [2].
Trong thời gian mang thai, nhu cầu kẽm tăng lên nhằm phục vụ cho quá trình hình thành phôi thai, sự tăng trưởng mô bào thai và phát triển tuyến vú [2], [5]. Kẽm cũng là thành phần cấu tạo thiết yếu của hệ thống phòng vệ chống oxy hóa, hỗ trợ hệ thống nhận diện và truyền tín hiệu sinh học phức tạp của cơ thể người mẹ [2], [5].
Khi thai nhi lớn lên, nồng độ kẽm tuần hoàn trong máu mẹ có xu hướng giảm tự nhiên theo tuổi thai [6]. Hiện tượng này xảy ra do sự gia tăng thể tích huyết tương của người mẹ cộng với nhu cầu điều động dưỡng chất trực tiếp sang thai nhi [6]. Cơ thể mẹ cũng thực hiện các điều chỉnh sinh học như tăng cường khả năng hấp thu và giảm bài tiết kẽm để bù đắp sự thiếu hụt [5].
Rủi ro sinh non khi cơ thể thiếu hụt kẽm
Mối lo ngại lớn nhất về tình trạng thiếu kẽm trong thai kỳ là nguy cơ chuyển dạ sớm. Một phân tích tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng bổ sung kẽm cho thấy việc bổ sung vi chất này giúp giảm 14% nguy cơ sinh non ở nhóm phụ nữ được can thiệp [1]. Tỷ lệ giảm tương tự cũng được xác nhận qua một tổng quan hệ thống năm 2013 với nguy cơ tương đối gộp là 0,86 (khoảng tin cậy 95%: 0,75 - 0,99) [4].
Tình trạng thiếu kẽm nghiêm trọng có thể kéo theo nhiều hệ lụy cho phôi thai và sức khỏe sản phụ [5]. Mức kẽm tuần hoàn thấp đã được chứng minh có mối liên hệ đáng kể với nguy cơ gia tăng các biến chứng sản khoa nói chung [2]. Nghiên cứu chỉ ra rằng những thai phụ có nồng độ kẽm huyết thanh ban đầu dưới mức trung bình và tiếp tục sụt giảm nghiêm trọng trong thai kỳ thường đối mặt với nguy cơ biến chứng sản khoa cao hơn [7].
Lý do kẽm giúp giảm tỷ lệ sinh non có thể bắt nguồn từ vai trò của khoáng chất này trong việc bảo vệ cơ thể trước các tác nhân gây viêm và nhiễm trùng [4]. Tình trạng nhiễm trùng ở người mẹ là một trong những nguyên nhân hàng đầu kích hoạt chuyển dạ sớm [4]. Bên cạnh đó, các phản ứng viêm hay sự gia tăng hormone lúc lâm bồn cũng làm giảm nhanh nồng độ kẽm trong huyết thanh [6].
Các nghiên cứu khoa học ghi nhận điều gì?
Các thử nghiệm lâm sàng và tổng quan khoa học quy mô lớn đã đưa ra nhiều kết quả chi tiết nhưng cũng đầy thận trọng về can thiệp bổ sung kẽm:
Nghiên cứu tổng quan hệ thống năm 2013 thu thập dữ liệu từ 20 thử nghiệm can thiệp độc lập với hơn 11.000 ca sinh trên năm châu lục, áp dụng mức liều từ 5 đến 50 mg kẽm mỗi ngày [4]. Kết quả ghi nhận việc bổ sung kẽm chỉ có ý nghĩa thống kê rõ rệt đối với việc giảm sinh non, trong khi không tìm thấy bằng chứng tác động đến các chỉ số phát triển của thai nhi như cân nặng lúc sinh, chiều dài hay chu vi vòng đầu [4]. Bằng chứng về giảm sinh non trong báo cáo này được xếp ở mức độ tin cậy thấp, và chỉ có 6 trong số 20 thử nghiệm đạt chuẩn chất lượng cao [4].
Một tổng quan quy mô lớn dạng "umbrella review" công bố năm 2021 sàng lọc 192 hồ sơ y văn và đưa vào đánh giá 15 bài tổng quan hệ thống [2]. Nghiên cứu tái khẳng định việc dùng kẽm giúp giảm nguy cơ sinh non, đồng thời chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa mức kẽm thấp và biến chứng thai kỳ, song không tìm thấy hiệu quả đáng kể trên các kết cục mẹ - con khác [2].
Nghiên cứu tiền cứu trên 878 phụ nữ mang thai tại Adelaide, Nam Úc theo dõi nồng độ kẽm tuần hoàn ở tuần 18, tuần 32 và máu dây rốn [7]. Nghiên cứu này ghi nhận nồng độ kẽm huyết thanh giữa thai kỳ có mối tương quan nghịch yếu với thời gian mang thai và cân nặng thai nhi, đồng thời nồng độ kẽm thấp ở giữa thai kỳ liên quan đến nguy cơ tăng xuất huyết trong lúc sinh [7].
Tại các quốc gia đang phát triển, một hội thảo khoa học tổng kết 8 thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng sơ bộ cho thấy kẽm có thể mang lại lợi ích cho tình trạng miễn dịch của trẻ sơ sinh và giảm nhiễm trùng sớm [8]. Một số bằng chứng sơ bộ khác cũng gợi ý kẽm có tiềm năng ngăn ngừa dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở hàm ếch [3]. Tuy nhiên, các dữ liệu về sự phát triển hành vi thần kinh thai nhi hay khả năng cải thiện chiều dài thai kỳ tại các khu vực này vẫn còn nhiều mâu thuẫn [8], [3].
Hiểu lầm thường gặp về việc uống kẽm
Một sai lầm phổ biến là quan niệm hễ uống kẽm thì con sinh ra sẽ nặng cân và to lớn hơn. Phần lớn các nghiên cứu lâm sàng đều cho thấy bổ sung kẽm cho mẹ không làm thay đổi đáng kể cân nặng khi sinh của thai nhi [1], [4]. Tác dụng cải thiện cân nặng sơ sinh chỉ được ghi nhận ở một nhóm nhỏ đối tượng phụ nữ bị thiếu cân hoặc thiếu hụt kẽm rõ rệt trước đó [1].
Nhiều người cũng tin rằng mọi phụ nữ mang thai cứ bổ sung kẽm đại trà là sẽ phòng tránh được toàn bộ tai biến sản khoa. Y văn quốc tế khẳng định dữ liệu hiện có chưa đủ cơ sở để khuyến nghị bổ sung kẽm thường quy cho toàn bộ thai phụ nhằm mục đích cải thiện kết cục thai kỳ [3]. Lợi ích sức khỏe cộng đồng từ việc bổ sung đại trà vẫn còn bị đánh giá là hạn chế nếu đối tượng không nằm trong nhóm nguy cơ [4].
Ngoài ra, việc đánh giá thiếu kẽm chỉ dựa trên một lần xét nghiệm máu đơn thuần dễ dẫn đến chẩn đoán sai lệch. Nồng độ kẽm trong máu vốn tự nhiên suy giảm dần theo sự tiến triển của thai kỳ do tăng thể tích máu và thay đổi nội tiết tố [6]. Vì vậy, việc diễn giải kết quả xét nghiệm kẽm ở các giai đoạn thai kỳ khác nhau cần được thực hiện cẩn trọng [6].
Ai cần thận trọng và ai nên bổ sung?
Phụ nữ mang thai thuộc nhóm có nguy cơ cao thiếu kẽm hoặc suy dinh dưỡng là đối tượng được khuyến nghị cân nhắc bổ sung vi chất này [1]. Người mẹ có thể trạng thiếu cân, chế độ ăn uống thiếu thốn kéo dài hoặc sống tại các vùng dịch tễ thiếu vi chất thường hưởng lợi rõ nhất từ các can thiệp y tế [1].
Ngược lại, thai phụ có sức khỏe bình thường, dinh dưỡng đầy đủ không nên tự ý tìm mua các loại viên uống kẽm liều cao để dùng hàng ngày. Việc bổ sung không đúng cách có thể gây lãng phí do cơ thể phụ nữ bình thường đã có cơ chế tự điều chỉnh hấp thu kẽm rất hiệu quả [5].
Đặc biệt, thai phụ không được tự ý kết hợp nhiều loại thực phẩm chức năng cùng lúc nếu chưa có sự đồng ý của bác sĩ chuyên khoa. Phụ nữ đang mang các bệnh lý chuyển hóa hoặc có bệnh nền cần tham khảo ý kiến y tế trực tiếp trước khi bổ sung bất kỳ vi chất dinh dưỡng nào.
Gợi ý áp dụng thực tế và lưu ý liều dùng
Trong các thử nghiệm lâm sàng can thiệp cho thai phụ, liều lượng bổ sung kẽm được áp dụng dao động trong khoảng từ 5 đến 50 mg mỗi ngày kéo dài ít nhất qua một tam cá nguyệt [4]. Đáng chú ý, các nghiên cứu khoa học ghi nhận việc bổ sung kẽm trong thai kỳ không gây ra tác động tiêu cực nào đối với tình trạng hấp thu sắt của cơ thể người mẹ [1].
Để đảm bảo an toàn cho từng quý thai kỳ, thai phụ nên ưu tiên nguồn kẽm tự nhiên từ chế độ ăn uống phong phú và cân bằng. Thịt nạc, thủy hải sản, các loại đậu và hạt ngũ cốc là nguồn cung cấp kẽm an toàn, dễ hấp thu mà không gây nguy cơ quá liều.
Trường hợp thai phụ nằm trong diện thiếu chất, bác sĩ sẽ chỉ định đơn thuốc chứa kẽm cùng các vi chất khác với liều lượng chính xác. Thai phụ nên duy trì uống thuốc đúng theo chỉ dẫn, không tự tăng liều khi bước sang các tam cá nguyệt sau với hy vọng thúc ép cân nặng của con, bởi các bằng chứng khoa học đã chứng minh điều này không mang lại kết quả [4].
Kẽm là vi chất thiết yếu giúp phòng ngừa nguy cơ sinh non và nâng cao miễn dịch thai kỳ ở những đối tượng có nguy cơ thiếu hụt [1], [8]. Tuy nhiên, việc bổ sung dưỡng chất này cần dựa trên sự tư vấn chuyên môn của bác sĩ thay vì tự ý sử dụng theo cảm tính.









