Nhiều người quan tâm đến các vi chất chống oxy hóa thường tìm mua thực phẩm chức năng bổ sung selen với hy vọng làm sạch lòng mạch và hạ huyết áp. Trào lưu tự ý uống selen liều cao nở rộ khi selen được biết đến như một dưỡng chất thiết yếu cho hệ miễn dịch. Tuy nhiên, liệu bổ sung càng nhiều khoáng chất này có thực sự giúp hệ mạch máu khỏe mạnh hơn?

Các bằng chứng khoa học cho thấy mối quan hệ giữa selen và sức khỏe tim mạch tuân theo đường cong chữ U [1], [2]. Điều này đồng nghĩa với việc cơ thể thiếu hụt selen hay dung nạp quá mức đều dẫn tới những nguy cơ bất lợi cho huyết áp và thành mạch [1], [2]. Điểm cân bằng sinh học tối ưu nằm ở một khoảng nồng độ rất hẹp [1], [2].

Cơ chế tác động của selen lên hệ mạch máu

Selen là một nguyên tố vi lượng thiết yếu đối với cơ thể người, hoạt động chủ yếu thông qua việc cấu thành nên các phân tử selenoprotein [1], [2]. Khi cơ thể ở trạng thái tối ưu, các protein này đóng vai trò điều hòa chuyển hóa và tham gia vào hoạt động chống oxy hóa để bảo vệ tế bào [1], [3]. Một ví dụ điển hình là glutathione peroxidase (GPx), loại selenoprotein có chức năng chống oxy hóa quan trọng nhằm bảo vệ hệ tuần hoàn [3].

Tuy nhiên, nếu nồng độ selen trong cơ thể hạ xuống quá thấp, sự sẵn có và chức năng của các selenoprotein sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, gây ra hậu quả xấu cho tim mạch và toàn thân [3]. Thiếu selen còn được cho là làm ảnh hưởng đến hoạt động của các enzym cytochrome P450 [3]. Đây là nhóm enzym đóng vai trò thiết yếu đối với dược động học của nhiều loại thuốc tim mạch, làm giảm hiệu quả điều trị của các loại thuốc này [3].

Ngược lại, nếu hàm lượng selen vượt ngưỡng an toàn, cơ chế bệnh sinh chuyển hóa tim mạch sẽ bị kích hoạt [2]. Mức selen quá cao tích hợp vào selenoprotein làm tổn hại sức khỏe tim mạch chuyển hóa thông qua việc khơi mào stress oxy hóa, thúc đẩy kháng insulin và làm xáo trộn chuyển hóa lipid [2]. Khi dư thừa, selen làm gia tăng sản sinh các gốc oxy hóa phản ứng (ROS) bằng cách kích thích biểu hiện quá mức RNA vận chuyển selenocysteine và ức chế tổng hợp selenoprotein thông thường, từ đó trực tiếp gây hại lên tế bào mạch máu [2].

Thiếu hụt selen và mối liên hệ với tăng huyết áp

Nhiều công trình dịch tễ học đã quan sát thấy tác động tiêu cực của tình trạng thiếu hụt selen đối với chỉ số huyết áp [3], [4]. Tình trạng này thể hiện rõ nét qua các khác biệt về giới tính và ở các quần thể có lượng selen nạp vào thấp [3], [4].

Nghiên cứu công bố năm 2023 tập trung vào tính dị hình giới tính chỉ ra rằng ở nữ giới, nồng độ selen huyết thanh thấp hơn có liên quan đến huyết áp tâm thu cao hơn, tỷ lệ mắc tăng huyết áp lớn hơn và phân suất tống máu thất trái (LVEF) cao hơn [3]. Nghiên cứu này cũng ghi nhận tỷ lệ nhồi máu cơ tim thấp hơn ở nhóm bệnh nhân có mức selen cao hơn, thể hiện rõ nhất ở nữ giới [3]. Ngược lại, mức hoạt động của GPx ban đầu thấp thường gặp hơn ở phụ nữ và liên quan độc lập tới béo phì, đái tháo đường [3].

Tại châu Âu, nơi mức selen nền của dân số thường dưới 100 mcg/L, Nghiên cứu FLEMENGHO tại Bỉ ghi nhận nồng độ selen máu có mối liên hệ nghịch với huyết áp tâm thu và tâm trương ở nam giới [4]. Mối liên hệ này chủ yếu bắt nguồn từ việc huyết áp tăng rõ rệt ở nhóm có mức selen thấp nhất dưới 78 mcg/L, trong khi ít biến thiên ở các nhóm cao hơn [4]. Nồng độ selen máu ban đầu cũng liên quan nghịch với nguy cơ mắc tăng huyết áp sau 5,2 năm theo dõi ở nam giới [4]. Một nghiên cứu khác trên đoàn hệ nam giới trung niên Kuopio tại Phần Lan cũng ghi nhận nồng độ selen huyết thanh liên quan nghịch với chỉ số huyết áp tâm thu [4].

Dư thừa selen: Nguy cơ tiềm ẩn cho thành mạch

Mặc dù thiếu selen gây bất lợi, việc dư thừa vi chất này lại phổ biến hơn ở các quốc gia tiêu thụ nhiều thực phẩm giàu selen hoặc lạm dụng viên uống bổ sung [4], [5]. Bằng chứng dịch tễ cho thấy selen tăng cao làm leo thang nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp [5], [6].

Phân tích dữ liệu từ Khảo sát Dinh dưỡng và Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NHANES giai đoạn 2011-2016) chứng minh nồng độ selen huyết thanh từ 120 mcg/L trở lên có liên quan rõ rệt với huyết áp cao (OR = 1,46; khoảng tin cậy 95%: 1,29-1,66) khi so với mức tham chiếu 75-150 mcg/L [5]. Khi selen huyết thanh vượt quá 150 mcg/L, mối liên hệ với huyết áp cao càng mạnh hơn với tỷ lệ chênh OR = 1,69 (khoảng tin cậy 95%: 1,32-2,17) [5]. Tỷ lệ chênh hiệu chỉnh cho tăng huyết áp ở nhóm tứ phân vị selen cao nhất so với thấp nhất là 1,19 [5]. Phân tích hồi quy phân vị cho thấy nồng độ selen tăng cao có liên kết chặt chẽ với sự gia tăng huyết áp tâm trương rõ rệt hơn so với huyết áp tâm thu [5].

Nguy cơ này cũng được ghi nhận tại các vùng có môi trường giàu selen tự nhiên [6]. Một nghiên cứu cắt ngang năm 2019 thực hiện trên 680 tình nguyện viên trưởng thành (267 nam và 413 nữ) sống tại 7 ngôi làng ở Punjab (Ấn Độ) thuộc khu vực có hàm lượng selen cao [6]. Kết quả từ mô hình hồi quy spline bậc ba điều chỉnh cho thấy nồng độ selen trong huyết thanh (P = 0,004) và trong tóc (P = 0,058) liên quan thuận với huyết áp tâm thu [6]. Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp cũng tăng thuận với cả ba chỉ số sinh học gồm selen huyết thanh, tóc và móng (P < 0,001), với xu hướng ở nữ giới mạnh hơn nam giới [6].

Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở vùng thừa selen. Nghiên cứu LIANCO năm 2012 tại Đức thực hiện trên 792 người không hút thuốc, không dùng thuốc hạ áp, không mắc đái tháo đường hay bệnh xơ vữa với nồng độ selen huyết thanh trung bình rất thấp là 68 +- 32 mcg/L [7]. Dù ở quần thể thiếu hụt, nhóm có selen huyết thanh cao nhất (>91,9 mcg/L) vẫn có huyết áp tâm thu cao hơn 5,2 mmHg và huyết áp tâm trương cao hơn 2,8 mmHg so với nhóm thấp nhất (<=42,8 mcg/L) [7]. Tỷ lệ mắc tăng huyết áp ở nhóm cao nhất cũng cao hơn hẳn với OR hiệu chỉnh là 1,52 [7].

Bằng chứng theo dõi dọc từ các nghiên cứu dài hạn

Để làm rõ mối quan hệ nhân quả, các nghiên cứu theo dõi thời gian dài đã được triển khai nhằm đánh giá sự thay đổi huyết áp theo hàm lượng selen nền [1], [8].

Một nghiên cứu dọc công bố năm 2016 thực hiện trên 2.000 người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên (độ tuổi trung bình 71,9 +- 5,6) tại 4 vùng nông thôn Trung Quốc, sử dụng chỉ số selen trong móng tay (trung bình 0,413 +- 0,183 mcg/g) [8]. Nghiên cứu theo dõi tại các mốc 2,5 năm và 7 năm [8]. Trong số 635 người có huyết áp bình thường ban đầu, 360 người đã tiến triển thành tăng huyết áp [8]. Tỷ lệ mới mắc tăng huyết áp tăng dần theo 5 nhóm phân vị selen móng: lần lượt là 45,83% ở nhóm 1; 52,27% ở nhóm 2; 62,50% ở nhóm 3; 70,48% ở nhóm 4; và 62,79% ở nhóm 5 [8]. So với nhóm phân vị thấp nhất, tỷ số nguy cơ (HR) mắc bệnh tăng huyết áp lần lượt là 1,41 ở nhóm 2; 1,93 ở nhóm 3; 2,35 ở nhóm 4; và 1,94 ở nhóm 5 [8].

Đặc biệt, nghiên cứu năm 2021 phân tích trên 929 bệnh nhân tăng huyết áp từ dữ liệu NHANES (2003-2004) với thời gian theo dõi trung bình 121,05 +- 40,85 tháng đã ghi nhận 307 ca tử vong (gồm 56 ca do tim mạch) [1]. Bệnh nhân được chia thành 4 nhóm theo nồng độ selen huyết thanh: Q1 (<=124 mcg/L), Q2 (125-135 mcg/L), Q3 (136-147 mcg/L) và Q4 (>=148 mcg/L) [1]. Kết quả cho thấy nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân và tử vong tim mạch có mối liên hệ hình chữ U rõ rệt với selen máu [1]. Nhóm Q3 có nguy cơ tử vong thấp nhất với HR tử vong do mọi nguyên nhân là 0,57 và HR tử vong tim mạch là 0,33 so với các nhóm còn lại [1]. Điểm đáy có tỷ lệ tử vong tim mạch thấp nhất được xác định tại mức 130 mcg/L, và tử vong chung thấp nhất tại 136 mcg/L [1].

Mối liên hệ hình chữ U này cũng được tái khẳng định qua nghiên cứu tại Vũ Hán ghi nhận nồng độ selen huyết tương (trung vị 92,66 mcg/L) có đường cong chữ U với béo phì trung tâm và huyết áp cao [2]. Một phân tích trên 13.887 người trưởng thành tham gia NHANES (1988-1994) cũng tìm thấy đường cong chữ U với tỷ lệ tử vong thấp nhất nằm ở mốc nồng độ khoảng 135 mcg/L [2].

Hiểu lầm thường gặp và ranh giới an toàn

Nhiều người thường mặc định rằng các chất chống oxy hóa thì dùng càng nhiều càng tốt cho thành mạch. Tuy nhiên, các phân tích dịch tễ cho thấy quan điểm này không chính xác với selen [1], [2]. Thừa selen không hề mang lại thêm lợi ích mà còn kích thích hình thành các phản ứng oxy hóa phá hủy tế bào nội mô mạch máu [2].

Một hiểu lầm khác là cho rằng khoáng chất nào cũng tác động giống nhau lên huyết áp. Dữ liệu phân tích NHANES giai đoạn 2011-2016 chứng minh rằng trong khi selen huyết thanh liên quan mật thiết với huyết áp cao thì kẽm huyết thanh không cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê (OR ở nhóm phân vị cao nhất so với thấp nhất là 1,11; khoảng tin cậy 95%: 0,96-1,29) [5]. Đối với đồng huyết thanh, các phân tích hồi quy sau đó cũng không cho kết quả có ý nghĩa đối với huyết áp cao [5]. Điều này khẳng định tác động gây biến đổi áp lực mạch máu có tính đặc hiệu cao đối với nồng độ selen [5].

Cần lưu ý rằng các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về việc bổ sung selen chưa chứng minh được mối quan hệ nhân quả một cách nhất quán [3]. Sự khác biệt giữa các quần thể nghiên cứu chịu ảnh hưởng lớn từ mức selen nền theo khu vực địa lý [3]. Ví dụ, người dân Mỹ vốn đã có mức selen nền tương đối đầy đủ dao động từ 114 mcg/L đến 136 mcg/L [3], [4], trong khi dân số nhiều nước châu Âu có mức nền thấp hơn 100 mcg/L [4]. Do đó, việc tự ý bổ sung viên uống ở quần thể không bị thiếu hụt dễ đẩy nồng độ selen vượt qua điểm đáy chữ U và làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch [1], [5].

Những đối tượng cần thận trọng

Người đã được chẩn đoán tăng huyết áp hoặc đang có chỉ số huyết áp dao động ở ngưỡng tiền tăng huyết áp cần đặc biệt cẩn trọng trước các thực phẩm bổ sung chứa selen [1], [5]. Việc nạp thêm vi chất này có thể khiến nồng độ vượt ngưỡng 136 mcg/L hoặc 150 mcg/L, làm tăng thêm áp lực lên thành mạch và tăng nguy cơ tử vong [1], [5].

Phụ nữ thừa cân, béo phì hoặc có rối loạn đường huyết cũng cần lưu tâm [3]. Các phân tích chỉ ra rằng mối liên hệ giữa nồng độ selen với tăng huyết áp và đái tháo đường ở nữ giới thường biểu hiện mạnh mẽ hơn so với nam giới [3], [6]. Thiếu selen ở nữ liên quan đến tăng áp lực tâm thu, nhưng nồng độ tăng cao cũng làm tăng tỷ lệ mắc bệnh [3], [6].

Người đang sử dụng các loại thuốc điều trị bệnh lý tim mạch mạn tính không nên tự ý dùng chế phẩm chứa selen khi chưa tham khảo bác sĩ [3]. Nồng độ selen thấp có thể làm thay đổi enzym chuyển hóa cytochrome P450 và ảnh hưởng tới hiệu lực của các thuốc tim mạch đang điều trị [3]. Việc can thiệp vi chất cần được chỉ định dựa trên xét nghiệm sinh hóa cụ thể thay vì phỏng đoán cảm tính.

Áp dụng thực tế để bảo vệ tim mạch

Thay vì tìm kiếm các viên uống bổ sung selen liều cao đơn lẻ, người dân nên duy trì trạng thái vi chất tối ưu thông qua chế độ ăn uống đa dạng và cân bằng. Selen có mặt tự nhiên trong nhiều loại thực phẩm hàng ngày như cá, hải sản, thịt nạc, trứng và các loại ngũ cốc nguyên hạt. Cơ thể chỉ cần một lượng vi lượng vừa đủ để tổng hợp selenoprotein mà không gây quá tải cho các mô mạch máu [1], [2].

Không nên tự ý mua và dùng các loại thực phẩm chức năng chứa selen kéo dài nếu không có bằng chứng xét nghiệm cho thấy cơ thể bị thiếu hụt lâm sàng. Khi đi khám sức khỏe định kỳ, người có bệnh nền tim mạch hoặc huyết áp nên thảo luận với bác sĩ chuyên khoa trước khi kết hợp bất kỳ chất bổ sung nào vào phác đồ điều trị thường quy.

Cả thiếu và thừa selen đều tạo ra những tác động tiêu cực đến chỉ số huyết áp và sức khỏe tim mạch theo đường cong chữ U [1], [2]. Điểm tối ưu cho sức khỏe thành mạch nằm ở ngưỡng sinh học vừa phải, nơi các selenoprotein hoạt động hiệu quả nhất mà không kích hoạt stress oxy hóa [1], [2]. Giữ lối sống lành mạnh và dinh dưỡng cân đối chính là giải pháp an toàn nhất để bảo vệ hệ tuần hoàn.