Nhiều người có thói quen tìm kiếm các loại thảo mộc tự nhiên để hỗ trợ kiểm soát huyết áp hàng ngày. Trong đó, trà dâm bụt đỏ (Hibiscus sabdariffa, thường gọi là atiso đỏ) là thức uống phổ biến nhờ hương vị chua nhẹ và màu sắc bắt mắt [1, 8]. Câu hỏi được nhiều người đặt ra là liệu loại trà này có thực sự hạ được huyết áp và có thể thay thế các thuốc điều trị thông thường hay không?
Nghiên cứu khoa học cho thấy trà dâm bụt có tác dụng hỗ trợ hạ huyết áp ở mức độ nhẹ [1]. Thậm chí một vài thử nghiệm lâm sàng ghi nhận hiệu quả hạ áp tương đương thuốc ức chế men chuyển như captopril liều thấp [5, 6]. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện nay chưa đủ mạnh để khuyến nghị thay thế thuốc kê đơn, và việc tự ý kết hợp có thể gây tụt áp hoặc tương tác dược động học phức tạp [1, 2].
Cơ chế hỗ trợ hạ áp của dâm bụt
Tác dụng hạ áp của thảo mộc này đến từ nhiều hợp chất thực vật phong phú [2]. Phân tích hóa học cho thấy dịch chiết đài hoa dâm bụt chứa chlorogenic acid, myricetin 3-arabinogalactoside, 5-O-caffeoylshikimic acid, quercetin 3-rutinoside, delphinidin 3-sambubioside và cyanidin 3-sambubioside [3].
Các cơ chế sinh học chính tạo nên hiệu quả hạ áp gồm hoạt tính giãn mạch, hiệu quả lợi tiểu và khả năng hoạt động như một chất ức chế men chuyển angiotensin (ACE) tự nhiên [2]. Dâm bụt cũng hỗ trợ giảm nhịp tim, chống viêm và tăng cường khả năng chống oxy hóa tế bào qua việc gia tăng glutathione (GSH) nội bào [3, 8].
Ngoài ra, ở mô hình thử nghiệm trên người, dịch chiết chuẩn hóa còn kích thích bài tiết natri qua nước tiểu (natriuretic effect), góp phần giảm áp lực nội mạch tương tự một số nhóm thuốc hỗ trợ hạ áp thông thường [4].
Hiệu quả hạ áp qua các nghiên cứu lâm sàng
Thử nghiệm lâm sàng mù đôi, đối chứng giả dược năm 2010 đã đánh giá hiệu quả trên 65 người trưởng thành từ 30 đến 70 tuổi bị tiền tăng huyết áp hoặc tăng huyết áp nhẹ, chưa dùng thuốc điều trị [1]. Tình nguyện viên uống 3 khẩu phần trà dâm bụt (mỗi phần 240 mL) mỗi ngày hoặc dùng đồ uống giả dược trong vòng 6 tuần [1].
Kết quả cho thấy nhóm uống trà dâm bụt giảm huyết áp tâm thu trung bình 7,2 ± 11,4 mmHg so với mức giảm 1,3 ± 10,0 mmHg ở nhóm giả dược (p = 0,030) [1]. Huyết áp tâm trương giảm 3,1 ± 7,0 mmHg so với 0,5 ± 7,5 mmHg của nhóm đối chứng (p = 0,160) [1]. Những người có huyết áp tâm thu ban đầu càng cao thì mức độ đáp ứng hạ áp với trà dâm bụt càng rõ rệt [1].
Trong một nghiên cứu can thiệp thí điểm năm 2019 tại Jordan trên 38 người có huyết áp không kiểm soát trên 140/90 mmHg (72% đang dùng thuốc hạ áp, 28% không dùng thuốc), liều dùng bắt đầu từ 10 g dược liệu pha 0,5 L nước mỗi ngày [5]. Liều này được tăng lên 15 g/1 L và 20 g/1 L ở tuần thứ hai và thứ ba nếu huyết áp vẫn cao [5].
Kết thúc đợt can thiệp, 29 người hoàn thành theo dõi: 38% đạt mục tiêu kiểm soát huyết áp và 65% ghi nhận huyết áp tâm thu giảm từ 10 mmHg trở lên [5].
So sánh trà dâm bụt với thuốc ức chế men chuyển
Một thử nghiệm ngẫu nhiên năm 2004 tiến hành so sánh dịch chiết dâm bụt chuẩn hóa (chứa 9,6 mg anthocyanin, pha từ 10 g đài hoa khô với 0,51 L nước, uống trước bữa sáng) với thuốc captopril 25 mg uống 2 lần mỗi ngày trên bệnh nhân tăng huyết áp từ 30 đến 80 tuổi trong 4 tuần [4]. Sau thời gian nghiên cứu, nhóm dùng dâm bụt giảm huyết áp tâm thu từ 139,05 xuống 123,73 mmHg và huyết áp tâm trương từ 90,81 xuống 79,52 mmHg [4].
Mức giảm huyết áp cuối kỳ giữa nhóm dùng dâm bụt và captopril không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p > 0,25) [4]. Tỷ lệ đạt hiệu quả điều trị (huyết áp tâm trương giảm ≥ 10 mmHg) đạt 78,95% ở nhóm dâm bụt so với 84,38% ở nhóm dùng captopril (p > 0,560), dung nạp tốt ở cả hai nhóm [4].
Năm 2020, một thử nghiệm pha 2 mù đôi trên 134 bệnh nhân Ai Cập mắc tăng huyết áp độ 1 so sánh sản phẩm thảo dược NW Roselle (kết hợp dâm bụt và lá ô liu Olea europaea) với captopril 25 mg dùng 2 lần mỗi ngày trong 8 tuần [6]. Mức hạ áp ghi nhận lần lượt là 16,4/9,9 mmHg ở nhóm captopril; 15,4/9,6 mmHg ở nhóm NW Roselle liều thấp; và 14,9/9,4 mmHg ở nhóm NW Roselle liều cao (sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm, p > 0,05) [6]. Nhóm dùng sản phẩm thảo dược liều thấp còn ghi nhận giảm triglycerid trung bình 17,56 mg/dL [6].
Dù vậy, một bài tổng quan hệ thống năm 2010 phân tích 4 thử nghiệm ngẫu nhiên với 390 bệnh nhân cho thấy dâm bụt hạ áp tốt hơn trà đen nhưng kém hơn các thuốc ức chế men chuyển (gồm captopril và lisinopril) [7]. Bài tổng quan nhấn mạnh đa phần các nghiên cứu đều ngắn hạn và có chất lượng phương pháp chưa cao (điểm Jadad < 3), nên chưa đủ cơ sở vững chắc để khuyến nghị dùng thay thế thuốc tây y [7].
Nguy cơ tương tác thuốc và hạ áp quá mức
Nghiên cứu trên động vật cho thấy việc tự ý phối hợp dâm bụt với thuốc ức chế men chuyển captopril tiềm ẩn rủi ro thay đổi dược động học [3]. Chuột cống uống dịch chiết dâm bụt 60 mg/200 g thể trọng mỗi ngày trong 2 tuần trước khi dùng một liều captopril 4,5 mg/200 g bị giảm diện tích dưới đường cong nồng độ-thời gian (AUC) và giảm nồng độ đỉnh trong huyết tương của captopril [3].
Đồng thời, thảo mộc làm tăng độ thanh thải toàn thân và tăng thể tích phân bố biểu kiến của thuốc [3]. Điều này xảy ra có thể do gốc sulfhydryl của GSH gia tăng liên kết với captopril tự do, hoặc quercetin trong dịch chiết làm giảm biểu hiện của chất vận chuyển PEPT1 [8].
Mô hình tăng huyết áp 2K1C ở chuột cho thấy dùng riêng captopril đem lại hiệu quả hạ áp ổn định nhất, đưa huyết áp về gần mức bình thường; trong khi phối hợp dâm bụt không làm tăng thêm hay giảm bớt đáng kể hiệu lực hạ áp thực tế [8]. Nếu người bệnh tùy tiện kết hợp liều cao trà dâm bụt cùng thuốc ức chế men chuyển, hiện tượng hạ huyết áp cộng hưởng có thể dẫn tới tụt áp đột ngột.
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Người đang uống thuốc hạ áp theo đơn (đặc biệt là nhóm ức chế men chuyển như captopril, lisinopril) không được tự ý uống trà dâm bụt thay thuốc hoặc dùng dồn dập lượng lớn [1, 2]. Tương tác sinh học có thể làm rối loạn nồng độ thuốc hoặc gây hạ huyết áp quá mức [2, 3].
Người có tiền sử huyết áp thấp, thường xuyên hoa mắt, chóng mặt nên hạn chế sử dụng đồ uống này vì đặc tính hạ áp tâm thu tự nhiên của thảo mộc [1].
Người chuẩn bị phẫu thuật hoặc đang điều trị đa bệnh lý mạn tính cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng thường xuyên dạng chiết xuất đậm đặc. Không tự ý ngưng phác đồ điều trị y tế hiện hành để chuyển sang dùng thảo dược [7].
Áp dụng thực tế an toàn trong đời sống
Đối với người tiền tăng huyết áp hoặc huyết áp bình thường cao muốn dùng hỗ trợ, liều lượng có bằng chứng nghiên cứu là 3 tách trà pha từ túi lọc (khoảng 240 mL mỗi lần uống) phân bổ đều trong ngày, duy trì trong khoảng 6 tuần [1].
Với đài hoa khô tự hãm, các nghiên cứu dùng liều 10 g khô hãm với khoảng 500 mL nước nóng, uống vào buổi sáng trước bữa ăn hoặc chia đều uống trong ngày [5, 7]. Tránh uống vào lúc đói cồn cào nếu có tiền sử đau dạ dày do dịch chiết có vị chua và tính acid tự nhiên.
Không nên đun nấu ở nhiệt độ quá cao trong thời gian dài để hạn chế hao hụt hàm lượng anthocyanin tự nhiên [4]. Duy trì chế độ ăn giảm muối, vận động thể lực đều đặn bên cạnh việc bổ sung trà thảo mộc.
Nhìn chung, trà dâm bụt là đồ uống lành tính có tác dụng hỗ trợ hạ áp nhẹ cho người tiền tăng huyết áp [4, 7]. Tuy nhiên, các dữ liệu so sánh ngang hàng với thuốc tây y như captopril mới chỉ dừng ở các thử nghiệm ngắn hạn quy mô nhỏ [1, 5]. Người bệnh cần coi đây là giải pháp hỗ trợ lối sống, tuyệt đối không tự ý bỏ thuốc điều trị và cần trao đổi với bác sĩ nếu muốn dùng song song [1, 2].









