Nhiều cha mẹ lo lắng khi thấy con bước vào giai đoạn ăn dặm nhưng tốc độ tăng cân lại chững lại rõ rệt. Không ít người lập tức quy kết nguyên nhân do sữa mẹ "loãng dần", do sữa công thức không hợp, hoặc vội vàng ép trẻ ăn thật nhiều bột, cháo đặc.
Thực tế, tình trạng chậm tăng cân khi ăn dặm hiếm khi do hoàn toàn một phía từ sữa hay thức ăn đặc. Nguyên nhân cốt lõi phần lớn bắt nguồn từ sự mất cân đối tỷ trọng năng lượng giữa sữa và bữa ăn dặm, kèm theo việc chế biến thức ăn bổ sung chưa đạt độ đậm đặc dinh dưỡng cần thiết.
Hiểu đúng về năng lượng trong giai đoạn chuyển tiếp
Ăn dặm là giai đoạn bổ sung, chuyển tiếp tự nhiên chứ không phải quá trình cắt đứt nguồn sữa đột ngột. Trong giai đoạn từ 6 đến 12 tháng tuổi, sữa mẹ vẫn có thể là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính và đáp ứng tới hai phần ba nhu cầu của trẻ [1]. Nếu phụ huynh cắt giảm lượng sữa quá nhanh khi hệ tiêu hóa của trẻ chưa kịp làm quen với lượng lớn thức ăn thô, tổng năng lượng nạp vào mỗi ngày sẽ sụt giảm nghiêm trọng.
Ngược lại, nếu trẻ tiếp tục bú mẹ theo nhu cầu không giới hạn cả ngày lẫn đêm mà không rèn luyện nếp ăn dặm có cấu trúc, trẻ sẽ thiếu hụt calo và vi chất. Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 254 trẻ em từ 12 đến 18 tháng tuổi ghi nhận rằng việc tiếp tục bú mẹ xuyên đêm có liên quan đáng kể đến tình trạng tỷ số cân nặng theo chiều dài suy giảm dưới mức -1SD (OR = 1,89; p = 0,037) [2]. Bú đêm triền miên làm giảm cảm giác thèm ăn bữa chính vào ban ngày, khiến trẻ từ chối các món ăn giàu dưỡng chất.
Bên cạnh đó, việc bổ sung thực phẩm thiếu vi chất sắt, kẽm và vitamin B6 là vấn đề rất phổ biến nếu thức ăn bổ sung không được tăng cường dinh dưỡng hợp lý [3]. Trẻ ăn no về mặt thể tích nhưng thực tế dạ dày non nớt lại chỉ chứa toàn nước hoặc chất xơ nghèo năng lượng.
Bằng chứng khoa học về việc sụt giảm tăng trưởng
Tình trạng chậm tăng cân (weight faltering) ở trẻ nhỏ đã được phân tích cụ thể qua nhiều nghiên cứu thực địa và lâm sàng nhằm làm rõ các yếu tố liên quan đến cách thức nuôi dưỡng.
Nghiên cứu tại Sri Lanka trên 254 trẻ cho thấy có tới 64,2% trẻ (163 bé) gặp tình trạng chững tăng cân tại một thời điểm nào đó trong 18 tháng đầu đời, và 78,5% trong số đó đã bắt đầu chậm tăng cân ngay từ giai đoạn 4 tháng tuổi trở xuống [2]. Đáng chú ý, 76,6% số trẻ chững cân ở mốc 4 tháng tuổi vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng kém này khi tròn 12 tháng tuổi [2]. Dù tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn đạt 88% đến 4 tháng và 60% đến 6 tháng, nhưng khi bắt đầu ăn dặm (với 40,6% trẻ bắt đầu trước 6 tháng), chỉ có vỏn vẹn 20,3% trẻ được cho ăn thức ăn có độ thô và độ đặc đạt chuẩn [2]. Việc cho ăn thức ăn quá loãng, không đảm bảo mật độ calo là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sụt giảm chỉ số tăng trưởng [2].
Vấn đề thiếu hụt calo từ sữa mẹ cũng từng được ghi nhận trong nghiên cứu năm 2018 trên các trẻ sinh non bú mẹ trực tiếp [4]. Nghiên cứu chỉ ra việc tăng số lần bú mẹ trực tiếp đôi khi đi kèm với việc chậm tăng cân do khả năng tự điều chỉnh lượng bú của trẻ non tháng chưa hoàn thiện để bù đắp cho mật độ calo thấp hơn của sữa mẹ so với sữa công thức chuyên biệt, hoặc do trẻ bú chưa đủ lượng sữa cuối giàu chất béo [4]. Để cải thiện cân nặng mà vẫn giữ được lợi ích gắn kết từ sữa mẹ, việc cân đo lượng sữa bú hoặc bổ sung chất tăng cường (fortifier) dạng đậm đặc trước hoặc sau cữ bú là giải pháp hữu hiệu [4].
Đối với trẻ mắc bệnh mạn tính như xơ nang (cystic fibrosis), một nghiên cứu thuần tập tiến cứu đa trung tâm trên 172 trẻ cho thấy 72% trẻ bú mẹ khi sinh, nhưng đến 6 tháng tuổi, 64% phải chuyển sang chế độ ăn tăng cường năng lượng để đảo ngược xu hướng tụt biểu đồ tăng trưởng [5]. Việc bổ sung năng lượng sớm giúp trẻ bắt kịp đà tăng trưởng về cân nặng và chiều cao ở mốc 3 tuổi, đồng thời nhóm trẻ duy trì bú sữa mẹ kết hợp tăng cường ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh phổi khởi phát sớm ở mức vừa và nặng thấp hơn đáng kể so với nhóm ăn sữa công thức đơn thuần (30% so với 62%, p = 0,02) [5].
Sai lầm khi chỉ bù năng lượng rỗng
Khi thấy con chậm tăng cân, nhiều người lập tức tìm đến các giải pháp bổ sung dầu mỡ bừa bãi, bột đường đơn thuần hoặc tìm đến các sản phẩm chế biến sẵn. Đây là sai lầm có thể dẫn đến mất cân bằng chuyển hóa.
Một thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh hiệu quả giữa công thức giàu dưỡng chất toàn diện (NDF) và công thức chỉ bổ sung thêm năng lượng (ESF) trên 49 trẻ chậm tăng trưởng trong 6 tuần đã chỉ ra bài học quan trọng [6]. Cả hai nhóm dùng sản phẩm có cùng mật độ năng lượng (4,2 kJ/mL), dung nạp tương đương, nhưng nhóm NDF nhận được lượng protein cao hơn 42% cùng lượng vitamin và khoáng chất cao hơn từ 15-40% [6]. Kết quả, nhóm chỉ bổ sung năng lượng thuần túy (ESF) bị sụt giảm tới 50% nồng độ ure trong máu, phản ánh tỷ lệ protein trên năng lượng dưới mức tối ưu, đồng thời chiều dài theo tuổi bị sụt giảm z-score rõ rệt [6]. Việc tăng calo mà quên đi tỷ lệ protein và vi chất đi kèm không thể giúp trẻ hồi phục thể trạng bền vững [6].
Thêm vào đó, việc lạm dụng thực phẩm siêu chế biến (UPF) như bánh quy, snack ngọt, đồ uống có đường hoặc sữa chua có đường trong 2 năm đầu đời gây hại nghiêm trọng cho thói quen ăn uống [1]. Nghiên cứu công bố năm 2020 ghi nhận thực phẩm siêu chế biến thường có mật độ năng lượng cao nhưng lại chứa nhiều đường, chất béo xấu, muối và phụ gia, làm lệch lạc khẩu vị tự nhiên của trẻ và cản trở việc tiêu thụ các món ăn lành mạnh cần thiết cho sự phát triển [1]. Nghiên cứu này cũng chỉ ra việc duy trì bú mẹ trong năm thứ hai giúp giảm nguy cơ tiêu thụ đồ ăn siêu chế biến và nước ngọt ở trẻ [1].
Giải pháp cải thiện độ đậm năng lượng của bữa ăn dặm
Thức ăn dặm truyền thống như cháo bột nấu quá loãng thường có mật độ năng lượng rất thấp, khiến trẻ nhanh no do đầy bụng chứa nước nhưng lại đói calo thực tế [7].
Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đối chứng mù người nghiên cứu thực hiện trên 44 cặp mẹ con tại Malawi (41 cặp hoàn thành) đã theo dõi lượng sữa mẹ tiêu thụ khi bổ sung thực phẩm năng lượng cao [8]. Trẻ 6 tháng tuổi được phân nhóm ngẫu nhiên dùng 25 g/ngày thức ăn tăng cường dạng phết (FS, mật độ năng lượng 22 kJ/g), 50 g/ngày FS, hoặc 72 g/ngày bột hỗn hợp ngô - đậu nành truyền thống (CSB) [8]. Đo lường bằng kỹ thuật pha loãng deuterium oxide cho thấy sau 1 tháng, mức tiêu thụ sữa mẹ giảm từ 129 ± 18 g/kg thể trọng/ngày xuống 115 ± 18 g/kg/ngày do trẻ ăn thêm thức ăn ngoài [8]. Tuy nhiên, mức giảm này tương đương nhau giữa các nhóm (p = 0,69), chứng minh rằng việc cho trẻ dùng thức ăn bổ sung giàu năng lượng không hề làm sụt giảm lượng sữa mẹ nhiều hơn so với cháo ngũ cốc truyền thống [8].
Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2022 về công thức cháo bổ sung dinh dưỡng từ nguyên liệu địa phương như khoai lang ruột vàng, hạt rau dền (amaranth), hạt bí ngô và bột đậu nành đã chứng minh giải pháp gia tăng dưỡng chất tự nhiên [7]. Bằng việc kết hợp các tỷ lệ nguyên liệu (như 40% hạt dền, 25% khoai lang ruột vàng, 20% đậu nành, 15% hạt bí ngô) trải qua quá trình nảy mầm và nấu đùn, cháo đạt mức độ tuân thủ 76,92% các tiêu chuẩn khuyến nghị về mật độ kẽm, sắt, vitamin A và protein [7]. Việc đa dạng hóa nguồn đạm, tinh bột và chất béo thực vật lành mạnh giúp tăng đậm độ năng lượng trong một khẩu phần nhỏ mà không làm quá tải thể tích dạ dày của trẻ [7].
Ai nên thận trọng khi điều chỉnh chế độ ăn?
Các bậc phụ huynh không nên tự ý áp dụng chế độ ăn cao năng lượng hoặc các loại bột tăng cân không rõ nguồn gốc nếu chưa có hướng dẫn y tế, đặc biệt đối với các nhóm đối tượng sau:
- Trẻ sinh non nhẹ cân: Trẻ có chức năng tiêu hóa và thận chưa hoàn thiện, việc tăng năng lượng hoặc dùng sản phẩm bổ sung cần được tính toán chính xác theo cân nặng để tránh quá tải [4].
- Trẻ có bệnh lý nền mạn tính (như xơ nang, suy giảm hấp thu): Cần phác đồ dinh dưỡng cá thể hóa từ bác sĩ chuyên khoa, kết hợp theo dõi sát sao chỉ số phát triển và biểu hiện lâm sàng [5].
- Trẻ chậm tăng cân đi kèm nôn trớ liên tục, tiêu chảy kéo dài hoặc phân có máu: Cần đưa trẻ đi khám ngay để loại trừ các bệnh lý dị ứng đạm sữa hoặc bất thường đường ruột.
Hướng dẫn thực hành cân đối dinh dưỡng mỗi ngày
Để trẻ tăng cân đều đặn và phát triển toàn diện, cha mẹ nên áp dụng các nguyên tắc phối hợp bữa ăn khoa học:
- Tôn trọng vai trò của sữa: Trong năm đầu đời, duy trì lượng sữa ổn định, không cắt bỏ đột ngột cữ sữa để thay hoàn toàn bằng thức ăn thô [1]. Khoảng cách giữa cữ sữa và cữ ăn dặm nên cách nhau khoảng 1,5 đến 2 giờ để trẻ kịp tiêu hóa và có cảm giác thèm ăn.
- Giảm dần cữ bú vặt xuyên đêm: Sau 6 tháng tuổi, cần hạn chế việc cho trẻ ngậm ti bú mẹ liên tục suốt đêm để cải thiện phản xạ tiếp nhận thức ăn đặc và ăn đủ lượng vào ban ngày [2].
- Tăng độ đặc và độ đậm năng lượng đúng cách: Nấu cháo, bột có độ sệt hợp lý, tránh nấu quá loãng nhiều nước [2]. Bổ sung chất béo lành mạnh (dầu thực vật, các loại hạt xay mịn như hạt bí ngô, hạt họ đậu) kết hợp nguồn đạm đa dạng từ thịt, cá, trứng nhằm đảm bảo tỷ lệ protein trên năng lượng tối ưu [5, 7].
- Hạn chế đồ ăn siêu chế biến: Tránh cho trẻ tiếp xúc sớm với các loại bánh kẹo, đồ ngọt công nghiệp, nước ngọt đóng chai trước 2 tuổi [1].
Chậm tăng cân trong giai đoạn ăn dặm là tín hiệu nhắc nhở cha mẹ cần xem lại sự cân bằng giữa lượng sữa và chất lượng từng bữa phụ. Thay vì sốt ruột ép trẻ ăn thật nhiều tinh bột loãng, việc nâng cao độ đậm dưỡng chất và phân bổ nhịp bú - ăn hợp lý sẽ giúp trẻ phục hồi đà tăng trưởng một cách tự nhiên và an toàn.




