Nhiều người tìm đến chế độ ăn thực dưỡng với hy vọng cải thiện sức khỏe tim mạch và huyết áp. Bữa ăn thực dưỡng điển hình gồm ngũ cốc nguyên cám, đậu hạt và rau củ, thường được cho là lành mạnh. Tuy nhiên, việc lạm dụng muối biển, nước tương, miso hay tamari có thể vô tình làm đảo lộn cân bằng điện giải.

Khoa học chỉ ra rằng huyết áp không chỉ phụ thuộc vào lượng muối ăn vào mà chịu tác động lớn bởi tỷ lệ natri trên kali (Na/K) trong khẩu phần [1, 2]. Kiểm soát cân bằng hai khoáng chất này qua nguồn thực vật tự nhiên chính là chìa khóa ổn định huyết áp [2, 5].

Cân bằng natri và kali quyết định huyết áp ra sao

Trong sinh lý học người trưởng thành không mang thai, natri có mối liên hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với huyết áp, nghĩa là tiêu thụ càng nhiều thì huyết áp càng tăng [1]. Ngược lại, kali có mối liên hệ tỷ lệ nghịch, giúp hạ chỉ số huyết áp khi lượng nạp vào tăng lên [1, 6]. Tỷ lệ Na/K phản ánh sự tương tác qua lại giữa hai chất điện giải này lên thành mạch và thể tích dịch tuần hoàn [2, 5].

Khi chế độ ăn giàu ngũ cốc nguyên cám và đậu hạt nhưng nêm quá đậm các gia vị chứa natri, nồng độ natri vượt trội kali sẽ gây co thắt hoặc giữ nước [2, 3]. Trái lại, khi kali dồi dào từ thực vật, áp lực lên mạch máu giảm đi rõ rệt [5, 6]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hướng dẫn Chế độ ăn uống cho Người Mỹ khuyến cáo tỷ lệ natri/kali trong chế độ ăn nên ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 1 [2].

Nghiên cứu dịch tễ nói gì về tỷ lệ natri và kali

Mối liên quan giữa hai khoáng chất này với huyết áp đã được kiểm chứng qua nhiều quần thể lớn trên thế giới. Trong nghiên cứu phân tích dữ liệu khảo sát dinh dưỡng Hoa Kỳ (NHANES 2005-2010), các nhà khoa học ghi nhận mức tăng huyết áp tâm thu khoảng 2,1 mmHg cho mỗi đơn vị tăng tỷ lệ natri/kali [2]. Nghiên cứu này cũng trích dẫn dữ liệu InterSalt và Dallas Heart Study, xác nhận bài tiết natri/kali qua nước tiểu 24 giờ liên quan thuận với huyết áp sau khi đã hiệu chỉnh nhiều biến số như tuổi, giới tính, BMI, đái tháo đường [2].

Tại Trung Quốc, một nghiên cứu cắt ngang năm 1995 thực hiện trên 328 nam và 335 nữ tại Thiên Tân đã thu thập nước tiểu 24 giờ kết hợp ghi chép thực phẩm 3 ngày có cân trọng lượng [3]. Kết quả khẳng định lượng natri tiêu thụ và tỷ lệ natri:kali ở mức rất cao, tương quan thuận rõ rệt với huyết áp sau khi hiệu chỉnh biến số gây nhiễu [3]. Kali chỉ cho thấy tương quan nghịch đáng kể với huyết áp tâm thu ở nữ và toàn bộ mẫu nghiên cứu gộp chung [3]. Nghiên cứu không ghi nhận mối liên hệ có ý nghĩa giữa canxi, magie với huyết áp [3].

Tại Hàn Quốc, nghiên cứu cắt ngang trên 24.096 người trưởng thành (từ 19 tuổi trở lên, không dùng thuốc hạ áp) từ cơ sở dữ liệu KNHANES 2007-2012 cho thấy mỗi 1 mg/kcal natri tăng thêm làm tăng huyết áp tâm trương 0,21 mmHg (P<0.001) [4]. Ngược lại, mỗi 1 mg/kcal kali tăng thêm làm giảm huyết áp tâm thu 1,01 mmHg (P<0.001) [4]. So với nhóm natri thấp/kali cao, nhóm ăn natri cao/kali thấp có nguy cơ tăng huyết áp cao hơn với tỷ số chênh OR 1,21 (KHOẢNG TIN CẬY 95%: 1,02 đến 1,44); nhóm ăn natri thấp/kali thấp cũng có nguy cơ cao hơn với OR 1,19 (KHOẢNG TIN CẬY 95%: 1,01 đến 1,40) [4]. Đáng chú ý, nhóm natri cao/kali cao không có sự khác biệt nguy cơ so với nhóm tham chiếu [4].

Tại miền Nam California (Hoa Kỳ), một nghiên cứu công bố năm 1988 trên 584 nam và 718 nữ từ 30 đến 79 tuổi sử dụng phương pháp nhớ lại khẩu phần 24 giờ cho thấy tỷ lệ Na/K tương quan tốt với cả huyết áp tâm thu và tâm trương ở cả hai giới, vượt trội so với khi xét riêng từng chất đơn độc [5]. Độ dốc hồi quy giữa huyết áp và tỷ lệ Na/K ở nam giới tăng dần theo tuổi, cho thấy sự nhạy cảm với tỷ lệ này tăng lên khi già đi [5].

Nghiên cứu quốc tế InterSalt tại 52 trung tâm năm 1994 phân tích mối liên hệ giữa BMI và các chất điện giải nước tiểu 24 giờ [6]. Phân tích chưa hiệu chỉnh BMI cho thấy mỗi 100 mmol natri cao hơn đi kèm huyết áp tâm thu cao hơn 6,00 mmHg và tâm trương cao hơn 2,52 mmHg [6]. Khi hiệu chỉnh BMI, mức tăng giảm còn 3,14 mmHg tâm thu và 0,14 mmHg tâm trương [6]. Tỷ lệ natri/kali tương quan dương có ý nghĩa với huyết áp tâm thu ở cả phân nhóm BMI thấp và cao, trong khi kali tương quan nghịch có ý nghĩa [6].

Bằng chứng can thiệp lâm sàng từ các thử nghiệm ngẫu nhiên

Bên cạnh các nghiên cứu quan sát, bằng chứng thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng mang tính chất xác thực cơ chế bảo vệ của kali. Một phân tích gộp năm 2015 gồm 15 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên với 917 bệnh nhân không dùng thuốc hạ áp đã chứng minh bổ sung kali làm giảm huyết áp tâm thu 4,7 mmHg (KTC 95%: 2,4-7,0) và giảm huyết áp tâm trương 3,5 mmHg (KTC 95%: 1,3-5,7) [7].

Hiệu quả này thể hiện mạnh mẽ hơn ở nhóm bệnh nhân đã mắc tăng huyết áp, với mức giảm tâm thu đạt 6,8 mmHg (KTC 95%: 4,3-9,3) và tâm trương giảm 4,6 mmHg (KTC 95%: 1,8-7,5) [7]. Phân tích hồi quy gộp chỉ ra rằng sự giảm huyết áp tương quan chặt chẽ với việc giảm tỷ lệ Na/K nước tiểu và tăng bài tiết kali hàng ngày từ 60 lên 100 mmol/ngày [7]. Điều này chứng minh rằng việc hạ tỷ lệ Na/K đóng vai trò tất yếu để đạt được hiệu quả hạ áp tối ưu [7].

Mặt khác, can thiệp dinh dưỡng tổng thể cũng củng cố giả thuyết này. Chế độ ăn DASH hướng đến mục tiêu tiêu thụ 3.000 mg natri và 4.700 mg kali (đạt tỷ lệ Na/K là 0,6) cho khẩu phần 2.100 kcal mỗi ngày [2]. Chế độ ăn giàu kali từ trái cây, rau củ và sữa ít béo này đã chứng minh hiệu quả giảm huyết áp ở người lớn không bị tăng huyết áp cũng như người mắc tăng huyết áp tâm thu đơn độc giai đoạn 1 [2].

Tuổi tác, nhóm tuổi đặc thù và các yếu tố đi kèm

Mối quan hệ giữa natri, kali và huyết áp không đồng nhất ở mọi giai đoạn sinh học. Ở thanh thiếu niên Hoa Kỳ từ 12 đến 14 tuổi tham gia khảo sát NHANES 1999-2012 (4.716 đối tượng), phần lớn các mức tiêu thụ natri hoặc kali riêng lẻ không liên quan đến huyết áp [8]. Tuy nhiên, nhóm tiêu thụ natri >=7.500 mg/ngày, kali <700 mg/ngày, hoặc có tỷ lệ Na/K >=2,5 bị gia tăng tỷ lệ mắc huyết áp tâm thu cao (>= bách phân vị thứ 95 theo tuổi, giới, chiều cao) [8]. Đáng lưu ý, 49,2% thanh thiếu niên thuộc các nhóm nguy cơ này có tỷ lệ Na/K >=2,5 [8].

Ngược lại, ở phụ nữ mang thai có huyết áp bình thường, cơ chế cân bằng dịch dường như có sự khác biệt. Nghiên cứu năm 2020 trên 984 phụ nữ mang thai bình thường từ các chu kỳ khảo sát NHANES (tuổi trung bình 27,6) cho thấy huyết áp tâm thu và tâm trương tương đương nhau qua các tứ phân vị tiêu thụ natri (từ mức thấp nhất 107/59 mmHg đến cao nhất 108/58 mmHg, p>0,60) [1]. Natri (b=0,16), kali (b=0,18) và tỷ lệ Na/K (b= -0,54, KTC 95%: -1,55 đến 0,47) đều không liên quan đến huyết áp sau khi đã hiệu chỉnh tuổi, chủng tộc, BMI, hút thuốc và tháng mang thai [1]. Huyết áp có thể không nhạy cảm với natri và kali trong thai kỳ bình thường [1].

Hiểu lầm thường gặp trong thực dưỡng

Nhiều người ăn thực dưỡng tin rằng dùng muối biển thô, nước tương lên men truyền thống, miso hay muối mè với số lượng nhiều sẽ không gây hại tim mạch vì đó là nguồn khoáng "tự nhiên". Đây là quan niệm sai lầm lớn. Bất kể nguồn gốc, natri đưa vào cơ thể vượt mức đều làm tăng tỷ lệ Na/K, kéo theo nguy cơ tăng huyết áp ở người trưởng thành [1, 3, 6].

Một ngộ nhận khác là chỉ cần ăn ngũ cốc nguyên cám và đậu nành là tự khắc đạt chuẩn dinh dưỡng mà không cần để ý lượng gia vị nêm nếm. Mặc dù các loại hạt và đậu cung cấp nguồn kali đáng kể, việc lạm dụng thực phẩm chế biến mặn đi kèm sẽ xóa bỏ hoàn toàn lợi thế bảo vệ của lượng kali đó, đẩy cơ thể vào nhóm nguy cơ cao [2, 6].

Những đối tượng cần thận trọng

Người cao tuổi cần đặc biệt lưu ý kiểm soát tỷ lệ Na/K. Dữ liệu dịch tễ cho thấy mức độ nhạy cảm của huyết áp với tỷ lệ Na/K gia tăng theo độ tuổi ở nam giới [5]. Người có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao cũng cần thận trọng vì béo phì khuếch đại tác động tiêu cực của natri lên huyết áp động mạch [3, 7].

Những bệnh nhân có bệnh lý nền như bệnh thận mạn tính hoặc đái tháo đường cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi tự ý tăng mạnh kali trong chế độ ăn, vì khả năng lọc và đào thải điện giải của thận có thể bị suy giảm [2]. Phụ nữ mang thai không nên tự ý áp dụng chế độ kiêng khem điện giải quá mức mà cần theo dõi y tế chặt chẽ, do các biến đổi huyết động đặc thù trong thai kỳ [1].

Hướng dẫn áp dụng cân bằng Na/K trong bữa ăn

Để thiết lập tỷ lệ Na/K lý tưởng hướng về mức <= 1 theo khuyến nghị của WHO [2], người theo chế độ ăn dựa trên thực vật hoặc thực dưỡng cần lưu ý:

  • Kết hợp ngũ cốc và đậu hạt: Ưu tiên gạo lứt, yến mạch, đậu đen, đậu xanh, đậu tương được nấu nhạt, giữ nguyên độ tươi ngon nguyên bản thay vì kho, hầm mặn.
  • Giảm thiểu gia vị mặn: Cắt giảm lượng muối tinh, muối biển, nước tương, chao, miso đưa vào nồi nấu. Thử sử dụng các loại rau thơm tự nhiên để tạo hương vị thay thế muối.
  • Nâng cao tỷ lệ kali: Tăng cường các loại rau củ giàu kali trong từng bữa ăn để đạt ngưỡng bài tiết kali tối ưu từ 60 đến 100 mmol/ngày nhằm hỗ trợ mạch máu [7].
  • Tránh các mốc cực đoan: Ngăn ngừa tình trạng lượng natri nạp vào vượt quá mức kiểm soát hoặc kali rơi xuống quá thấp, hạn chế nguy cơ vượt ngưỡng tỷ lệ Na/K >= 2,5 [8].

Chế độ ăn giàu ngũ cốc nguyên cám và các loại đậu chỉ phát huy tối đa lợi ích sức khỏe tim mạch khi đi liền với việc cắt giảm muối nêm. Duy trì tỷ lệ natri/kali ở mức tối ưu chính là giải pháp bền vững giúp kiểm soát chỉ số huyết áp ổn định lâu dài.